梁 昭 明 太 子 分 經 石 臺


梁 朝 昭 明 太 子 分 經 處

石 臺 猶 記 分 經 字

臺 基 蕪 沒 雨 花 中

百 草 驚 寒 盡 枯 死

不 見 遺 經 在 何 所

往 事 空 傳 梁 太 子

太 子 年 少 溺 菸 文

強 作 解 事 徒 紛 紛

佛 本 是 空 不 著 物

何 有 乎 經 安 用 分

靈 文 不 在 言 語 科

孰 為 金 剛 為 法 華

色 空 境 界 茫 不 悟

癡 心 歸 佛 佛 生 魔

一 門 父 子 多 膠 蔽

一 念 之 中 魔 自 至

山 陵 不 涌 蓮 花 臺

白 馬 朝 渡 長 江 水

楚 林 禍 木 池 殃 魚

經 卷 燒 灰 臺 亦 圯

空 留 無 益 萬 千 言

後 世 愚 僧 徒 聒 耳

吾 聞 世 尊 在 靈 山

說 法 渡 人 如 恆 河 沙 數

人 了 此 心 人 自 渡

靈 山 只 在 汝 心 頭

明 鏡 亦 非 臺

菩 提 本 無 樹

我 讀 金 剛 千 遍 零

其 中 奧 旨 多 不 明

及 到 分 經 石 臺 下

終 知 無 字 是 眞 經

.阮攸


Phiên âm:

Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài.

Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ,

Thạch đài do kí “Phân kinh” tự.

Đài cơ vu một vũ hoa trung,

Bách thảo kinh hàn tận khô tử.

Bất kiến di kinh tại hà sở?

Vãng sự không truyền Lương thái tử Thái tử.

Thái tử niên thiếu nịch ư văn,

Cưỡng tác giải sự đồ phân phân.

Phật bản thị không bất trước vật,

Hà hữu hồ kinh an dụng phân?

Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa,

Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa?

Sắc không cảnh giới mang bất ngộ,

Si tâm quy Phật Phật sinh ma.

Nhất môn phụ tử đa giao tế,

Nhất niệm chi trung ma tự chí.

Sơn lăng bất dũng liên hoa đài.

Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy,

Sở lâm họa mộc trì ương ngư,

Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ.

Không lưu vô ích vạn thiên ngôn,

Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ.

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,

Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số.

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Minh kính diệc phi đài,Bồ Đề bản vô thụ.

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,

Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,

Chung tri vô tự thị chân kinh .



Việt dịch:

Đài đá 'phân kinh’ của thái tử Lương Chiêu Minh.



Nơi phân kinh Chiêu Minh thái tử[1],

Đài đá còn in chữ phân kinh.

Nền hoang hoa dại phủ trong mưa,

Trăm cỏ chết khô run sợ rét.

Chẳng thấy lưu kinh ở nơi nào?

Việc chỉ nghe qua Lương Thái tử,

Ấu thời người lại thích văn chương.

Cưỡng bày chú giải thêm lộn xộn.

Phật vốn là không, vật chấp nào,

Vậy có kinh nào để đặt chia?

Văn linh nào nhờ nơi ngôn ngữ,

Kim Cương, Pháp Hoa là kinh gì?

Cảnh giới sắc không mà không tỏ,

Lòng mê theo Phât, Phật thành ma.

Cha con một nhà đều mù cả,

Một niệm khởi lên ma tự đến.

Lăng tẩm, đài sen không tự mọc,

Một sớm trường giang bạch mã qua,

Cây lây rừng Sở ao cá vạ,

Kinh đốt ra tro đài sập luôn.

Muôn vạn nghìn lời thôi vô ích,

Tăng ngu hậu thế miệng lia thia.

Tôi nghe Thế tôn tại Linh Sơn,

Nói pháp độ người như số cát[2].

Người tỏ tâm này người tự độ,

Linh sơn chỉ tại tấm lòng ngươi.

Gương sáng trong veo cũng không đài,

Bồ-đề xưa nay vốn không cây.

Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến,

Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.

Cho đến dưới đài đá phân kinh,

Cuối cùng “Vô tự” biết là chân kinh.

Qua nội dung bài thơ này, Nguyễn Du tiên sinh đã cho chúng ta biết được sự thông hiểu về giáo lý Đại thừa nhà Phật nói chung và, nhất là Thiền Tông Phật giáo nói riêng của cụ, không những về mặt nghiên cứu học hỏi thâm hiểu thông suốt sâu xa không thôi, mà ngay cả đến vấn đề thực hành trong tu tập để đưa đến sự đạt ngộ về Thiền qua “Vô Tự” là chân kinh cũng được cụ thể hiện rốt ráo nữa. Thường những người nghiên cứu Phật Giáo về Truyện Kiều mà không đọc qua thơ chữ Hán của Cụ thì hầu hết đều có những cái nhìn sai lạc về Phật Giáo nói chung và về cụ Nguyễn Du nói riêng. Vì Nhân duyên, tác nhân thọ quả, tội phước báo ứng của Phật giáo trong truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du được Cụ đưa vào để phủ định thuyết Thiên mệnh của Nho Giáo để trả lại sứ mệnh của con người do chính con người tạo ra trong chức năng tự tác tự thọ chứ không phải đưa ra để dung hợp hay, đưa ra để tạo sự mâu thuẫn giữa thiên mệnh và nhân mệnh tạo thành một thế giới quan tiêu cực hỗn tạp như một số tác giả đã nói. Ở đây chúng tôi sẽ đưa ra một số nhận định đại diện cho các nhà phê bình từ xưa đến nay về Phật giáo theo quan niệm hiểu của họ rồi đem gán cho cụ Nguyễn Du qua truyện Kiều và, qua đó chúng ta đem so sánh với cái thâm hiểu Phật giáo của Cụ Nguyễn Du nói chung và Thiền tông nói riêng qua bài thơ trên chính Cụ đã làm, nhân chuyến đi sứ Trung Quốc, về sự thâm hiểu và ngộ nhập vào lý Không Trung đạo của Phật giáo như thế nào? Để từ đó chúng ta đánh giá đúng thật sự về Cụ Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng Phật giáo như thế nào, chứ không phải như những nhà học giả phê bình bằng vào sự tưởng tượng của chính mình đem áp đặt lên cho Cụ, rồi bảo quan niệm của Cụ về Phật Giáo như thế này, như thế nọ theo ý riêng tư của mình, trong khi họ không hiểu biết một cách chính xác gì về Phật giáo, hay có biết Phật giáo cũng thuộc dạng nửa vời, hời hợt, sai lạc khi đề cập về Phật giáo trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du!
Theo cụ Trần Trọng Kim trong “Lý thuyết Phật học trong truyện Kiều.
[3]” thì cho rằng: “ Theo đạo Phật ở đời không có gì là không có nhân duyên, mà cái nhân duyên đó kết hợp thành cái nghiệp. Cái phần tốt, phần hay của nàng Kiều là ở chỗ dù khổ sở thế nào, cũng giữ được cái tâm trong sạch, cái bụng nhân nghĩa và cái sức cố gắng mà phấn đấu với cái nghiệp chướng của mình. Cái giá trị của con người ta ở đời cốt ở chỗ ấy, mà cái nhân cách của con người ta có rõ rệt ra là cũng ở chỗ ấy.”
“Cái thuyết nhân quả và cái nghiệp của nhà Phật gần giống như cái thuyết định mệnh (déterminisme) của triết học bên Tây. Nhưng chỉ khác ở chỗ cái định mệnh của nhà Phật là do tự mình định ra, chứ không phải tự ở sức ngoài sai khiến. Thành thử cái thuyết nhân quả vẫn để cho mình có cái hoàn toàn tự do. Mình phải theo cái nghiệp tự mình gây ra cho mình, chứ không phải cái nghiệp tự đâu gây ra mà bắt mình phải chịu.”
Và cũng trong bài này, chỗ khác cụ viết: “Nguyễn Du không chỉ giải diễn cái tư tưởng của Phật học ở trong Truyện Kiều mà thôi, tiên sinh còn làm bài Văn tế thập loại chúng sinh cũng theo đúng cái tư tưởng ấy.”
Chỗ khác cụ Trần Trọng Kim viết, “cứ như ý tôi thì Truyện Kiều bày tỏ một cách rất rõ ràng cái lý thuyết nhân quả của nhà Phật.” và cụ Trần Trọng Kim, cho Truyện Kiều là một tác-phẩm “văn dĩ tải đạo” thật sâu sắc. Điều này chứng tỏ “tiên sinh là một người học rộng, tinh thông cả Nho học và Phật học.”
Còn theo cụ Đào Duy Anh trong Khảo luận về “truyện Thúy Kiều”
[4] đã viết:
“Nhưng Nguyễn Du không phải là một nhà nho thuần túy. Cái tình đa cảm, những kinh nghiệm đau đớn đã đem Nguyễn Du đến Phật giáo. Ông không thỏa mãn đối với cái luật ‘bỉ sắc tư phong,’ vì nó mới chỉ là một nhận xét tuồng như đúng mà chưa cắt nghĩa rõ ràng về lý do. Người ta vẫn chưa hiểu tại sao lại có cái luật thừa trừ như thế. Ông không chịu rằng người ta không có trách nhiệm gì về sự cân nhắc họa phúc của Trời. Ông bèn lấy chữ nghiệp của nhà Phật mà phát huy cho chữ mệnh của nhà nho. Theo luật nhân quả của Phật thì những điều người ta làm ở kiếp này là nguyên nhân sẽ sinh ra kết quả ở kiếp sau, mà những điều người ta làm ở kiếp trước là nguyên nhân sinh ra kết quả ở kiếp này. Những việc làm trước sinh ra kết quả ở sau gọi là nghiệp.” Và chỗ khác Cụ viết:
“Thực ra tư tưởng nhờ thiện tâm mà giảm nhẹ bớt được nghiệp chướng để hưởng thụ ngay ở kiếp này thì không đúng hẳn với quan niệm nhân quả thuần túy của nhà Phật, nhưng nó lại rất đúng với quan niệm nghiệp báo hay báo ứng phổ thông trong dân gian. Chính như cái tư tưởng ‘trời định’ (tỷ-dụ, khi Đạm Tiên báo cho Kiều là ‘Đoạn trướng [đã] sổ rút tên ra’ hoặc khi sư Tam Hợp cho rằng Kiều tuy có ‘hại một người [Từ Hải, nhưng] cứu muôn người’ thì ‘khi nên, trời cũng chiều người’) ... cũng không có quan hệ gì với Phật lý, nhưng vốn là điều người mình tin lắm, vô luận là người theo Phật hay theo Nho. Vậy ta nên nói rõ rằng tư tưởng Phật giáo của Nguyễn Du ở đây là theo tín ngưỡng thông thường của dân chúng.”
Còn Theo Cao Huy Đỉnh Triết lý đạo Phật trong truyện Kiều
[5] đã viết:
“Trong cái khối thế giới quan tiêu cực hỗn hợp của Truyện Kiều,” ông viết, “triết lý Phật chiếm một liều lượng lớn, vì chất bi quan yếm thế của nó dễ diễn tả nhất những nỗi day dứt siêu hình ở trong tâm trạng con người, nhất là phụ nữ, nạn nhân cực khổ nhất của xã hội phong kiến, càng là nạn nhân cực khổ nhất của thời đại Nguyễn Du. Đạo Nho lúc này đây chỉ còn có những con người đa tình, phong nhã hào hoa như Kim Trọng, những con người tầm thường sống trong khuôn phép tầm thường như Thúy Vân, như Vương Quan, những con người biết yêu biết khóc nhưng không dám hành động như Thúc Sinh, những ông quan lừng chừng như viên tri phủ, những vị trọng thần ‘mặt sắt cũng ngây vì tình’ như Hồ Tôn Hiến. Đạo Nho rõ ràng đang suy sụp cùng với cả cái nền tảng xã hội phong kiến của nó. Cương thường đạo lý của nó không còn sức hấp dẫn nữa.”
Ở đoạn khác Cao Huy Đỉnh viết:
“Phải chăng đây là mối cảm tình đặc biệt của Nguyễn Du và thời đại ông đối với Phật giáo? Nó át hẳn cái lý của Nho giáo mà ông phải theo một cách gượng gạo. Chữ ‘nghiệp’ [làm] mê muội và an ủi tâm hồn yếu đuối quả đã hấp dẫn được lòng người đang sợ hãi cái thực tại đầy đau thương và thổi thêm luồng gió bi quan vào trong cơn bão táp thời đại Nguyễn Du và trong Truyện Kiều.”
Và theo Trần Đình Sử, Thi Pháp truyện kiều
[6], trong phần Truyện Kiều như một đối tượng của văn học so sánh, đã viết:
“Thực ra đạo Phật đã bị khúc xạ khi đi vào truyện Kiều. Nhận xét về sự hỗn dung, pha trộn Phật – Nho là rất có căn cứ. Trong thơ chữ Hán đã có nhiều bài, nhiều câu thể hiện cho tư tưởng Phật như: “Hà năng lạc phát “ (Làm sao có thể gọt tóc vào rừng đi tu), “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng, thử tâm thường định bất ly thiền” (Đầy trời là không, không hình tướng, tâm này thường định vào ý thiền). Còn trong truyện Kiều thì nghiệp và mệnh trời bổ sung cho nhau, nhân ái và từ bi bổ sung cho nhau. Nhưng tính chất dung hợp cũng đã làm nhạt nhòe tư tưởng Phật giáo.”
Đó là những quan điểm đại diện cho các khuynh hướng của các nhà học giả phê bình từ xưa đến nay viết về Phật giáo theo truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà chúng tôi đã trích ra, và sau đây chúng tôi sẽ trình bày Phật giáo của Nguyễn Du qua sự thâm hiểu và đạt ngộ của Cụ như thế nào theo bài thơ mà chính cụ đã viết nhận chuyến đi sứ Trung quốc:
Qua toàn bộ ý tưởng bài thơ này không những cụ Nguyễn Du đã thâm hiểu một cách triệt để về tư tuởng Phật giáo Đại thừa, mà nhất là tư tưởng Thiền tông kinh qua thực hành độc tụng Kinh Kim Cương. Một bản kinh mà Phật giáo Thiền tông Trung quốc đã y cứ vào đó để cho các hành giả Thiền tu tập
[7]. Một bài thơ mà trong đó nó chuyên chở cả hệ thống Thiền tông từ Ấn Độ nơi khơi mào Thiền tại Linh Thứu sơn qua “Niêm Hoa Vi Tiếu” giữa đức Đạo sư và Tôn giả Ma-ha Ca-diếp trong việc truyền trao Tâm ấn “Chánh Pháp nhãn tạng, diệu tâm Niết bàn thực tướng vô tướng truyền riêng ngoài giáo”[8], truyền mãi cho đến Ngài Bồ-đề Đạt-ma và cho đến Lục tổ Huệ Năng Đại sư Tại Trung quốc đều được gói gém trọn trong một bài thơ này để cuối cùng nói lên chỗ sở ngộ của mình về Kinh Kim Cương. Ngoài những ý chính này ra, Nguyễn Du tiên sinh cũng để cảnh tỉnh những ai làm việc với tâm hữu sự vì chút danh hay chút lợi đều đi ngược lại với tư tưởng Thiền giải thoát của đức Đạo sư cả. Dưới đây chúng tôi sẽ phân tích và chứng minh những điều đó qua thực tế của bài thơ:
Để đi vào chủ đề bài thơ Nguyễn Du tiên sinh nhân đi thăm viếng những nơi có lẽ theo người Trung quốc lúc đó thì “Phân Kinh Thạch Đài” xưa kia của Thái tử Lương Chiêu Minh là một nơi có tiếng tăm nên được nhà nước Trung Hoa vào lúc bấy giờ hướng dẫn cho các sứ thần nước khác đến viếng thăm hay ít ra chỉ đặc biệt dành cho cụ Nguyễn Du nước Việt nam nhân chuyến đi sứ Trung quốc vào năm 1813 này thôi ?
Vào đầu bài thơ Cụ viết:

梁 朝 昭 明 太 子 分 經 處
石 臺 猶 記 分 經 字
臺 基 蕪 沒 雨 花 中
百 草 驚 寒 盡 枯 死
不 見 遺 經 在 何 所.

Phiên âm:
“ Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ,
Thạch đài do kí “Phân kinh” tự
Đài cơ vu một vũ hoa trung
Bách thảo kinh hàn tận khô tử
Bất kiến di kinh tại hà sở.”

Dịch nghĩa:
"Nơi phân kinh Chiêu Minh thái tử
[9],
Đài đá còn in chữ phân kinh;
Nền hoang hoa dại phủ trong mưa,
Trăm cỏ chết khô run sợ rét.
Chẳng thấy lưu kinh ở nơi nào?"

Sự hiện hữu và đổi thay của mọi hiện tượng tất cả đều do nhân duyên đủ đề hình thành và biến dịch và chúng bị luật vô thường chi phối nên muôn sự muôn vật thuộc vật lý và cả tâm lý cũng bị chúng chi phối làm thay đổi biến dịch tất cả, không có một vật thể nào có thể được gọi là trường tồn vĩnh viễn với thới gian hết. Ở đây đài phân kinh xưa kia của Thái Tử Lương Chiêu Minh cũng nằm trong quy luật tất yếu này, cụ Nguyễn Du đến viếng nơi này chỉ còn thấy những hiện vật trơ mờ hai chữ “phân kinh”, mà không thấy kinh lưu lại nơi nào? Còn chăng chỉ một nền đá hoang tản phủ đầy hoa cỏ dại nằm trong mưa, trăm loại cỏ cây chết vì sợ giá lạnh khắc nghiệt của thời tiết. Đối với hiện thưc của cảnh vật được cụ Nguyễn Du chứng kiến qua con mắt của mình khi viếng thăm nơi này chỉ có vậy thôi, còn việc nghe qua tai thì Cụ viết tiếp như sau:

往 事 空 傳 梁 太 子
太 子 年 少 溺 菸 文
強 作 解 事 徒 紛 紛


Phiên âm:
“Vãng sự không truyền Lương Thái tử
Thái tử niên thiếu nịch ư văn,
Cưỡng tác giải sự đồ phân phân.

Dịch nghĩa:
"Việc chỉ nghe qua Lương Thái tử;
Ấu thời người lại thích văn chương,
Cưỡng bày chú giải thêm lộn xộn."

Về nội dung của việc phân kinh này như thế nào thì trong hiện tại chỉ thấy qua những sự kiện đổi thay của sự vật còn nội dung và ý nghĩa của nó thì chỉ có nghe qua người nói lại biết rằng Thái tử họ Lương lúc còn trẻ tuổi thích văn chương thi phú, thích nghiên cứu trước tác nên đã cưỡng bày ra việc đem kinh ra giảng giải chú thích, nhưng cuối cùng nó chỉ mang lại cho người đọc và người đi sau thêm phần lộn xộn rắc rối mà thôi. Cụ Nguyễn Du đã phê bình việc làm này của Thái tử Lương Chiêu Minh và cho cả những người đi sau như chúng ta nữa, đó là một việc làm trói buộc trái với đạo lý giải thoát của đức Đạo sư, Cụ viết tiếp:

“佛 本 是 空 不 著 物
何 有 乎 經 安 用 分
靈 文 不 在 言 語 科
孰 為 金 剛 為 法 華
色 空 境 界 茫 不 悟
癡 心 歸 佛 佛 生 魔
一 門 父 子 多 膠 蔽.

Phiên âm:
“Phật bản thị không bất trước vật
Hà hữu hồ kinh an dụng phân
Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa
Thục vi Kim Cương vi Pháp Hoa
Sắc không cảnh giới mang bất ngộ
Si tâm quy Phật Phật sinh ma
Nhất môn phụ tử đa giao tế.


Dịch nghĩa:
“Phật vốn là không, không chấp vật
Vậy có kinh nào để đặt chia?
Văn linh nào nhờ nơi ngôn ngữ
Kim Cương, Pháp Hoa là kinh gì?
Cảnh giới sắc không mà không tỏ
Lòng mê theo Phât, Phật thành ma
Cha con một nhà đều mù cả."


Ngay đến Phật dù mang hình thức vật hay là tâm cũng đều là hư vọng, giả danh như huyễn đứng về mặt tướng, còn nếu đứng về mặt thể thì là Không, là tánh không, vì tất cả đều hiện hữu nhờ vào các duyên mà có. Có này chỉ là một tập hợp của năm uẩn (sắc (đất, nước, gió, lửa) thọ, tưởng hành, thức) không có bản chất nhất định nào của năm uẩn này làm chủ nên nó là không. Tóm lại Phật, nếu đứng về mặt tướng thì Phật là như huyễn, nếu đứng về mặt thể thì là tánh không, cho nên ở đây cụ Nguyễn Du đã nói lên được chỗ tột cùng của tướng chân thật của Phật là Không. Và ở đây tướng và thể của Phật là như huyễn và, tánh của Phật là tánh không, vậy chúng ta dựa vào cái gì để mà chấp trước? Ngay đến Phật còn không, huống chi là kinh pháp, vậy chúng ta lấy gì đặt để và phân chia? Như trong Kinh Kim Cương đức Đạo sư đã dạy: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. (Phàm vật gì có tướng mạo, đều là hư vọng.)” Và cũng trong Kinh kim Cương chỗ khác đức Đạo sư dạy: “Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điễn, ứng tác như thị quán.[10] (Tất cả pháp có tạo tác, như mộng, huyễn, bọt, ảnh, như sương cũng như điện, nên quán chúng như vậy). Do vậy cho nên cụ Nguyễn Du đã phê bình sự sai lầm của Thái tử Lương Chiêu Minh trong cách hiểu Phật và giáo pháp của Ngài nên đã làm một công việc không có ích lợi gì hết, Thái tử chỉ hiểu biết Phật qua hình thức mà thôi còn cốt tủy của Phật và giáo pháp của Ngài lại không hiểu biết gì hết nên bày ra việc phân chia kinh điển luận giải lôi thôi! Như Cụ đã nói Văn linh không cần nhờ vào ngôn ngữ. Ở đây cái linh văn chính là phần cốt tủy nội dung của nó chứ không phải ở nơi ngôn ngữ lời nói; chính kinh Kim Cương, kinh Pháp Hoa cũng vậy. Pháp Hoa, Kim cương chỉ là sự tập hợp của ngôn ngữ, mà ngôn chỉ là mang hình thức nâng đỡ cho nội dung của nó chứ ngôn ngữ không phải là nội dung của chính nó, do đó chúng ta không nên chấp vào hình thức văn tự của Pháp Hoa hay Kim Cương, vì hình thức không là gì hết, nếu chúng ta căn cứ vào hình thức ngôn ngữ để đánh giá nó thì đó là một việc làm theo cụ Nguyễn Du là sai lầm, không đúng tôn chỉ và, xa lìa cốt tủy của nó. Theo cụ Nguyễn Du nếu muốn thông hiểu Phật pháp cho đúng thì phải thông hiểu cảnh giới sắc-không, bằng không hiểu cảnh giới sắc-không thì chúng ta là những kể mê không bao giờ hiểu đúng những lời dạy của Phật hết; cho dù chúng ta đem lòng mê muội này để đi theo Phật, thì theo Cụ, Phật mà chúng ta theo đó cũng thành ma mà thôi! Để kết luận cho việc làm này của Thái tử Lương Chiêu Minh, Cụ Nguyễn Du đã bảo Thái tử và cha của Thái tử là Lương Vũ Đế cả nhà hai cha con đều mù cả là vậy. Vì sao ở đây cụ Nguyễn Du bảo cả hai cha con của Lương Vũ đế đều mù cả? Vì như theo Pháp bảo Đàn kinh[11]:
“Một hôm Lục Tổ đăng đàn nói pháp thì, Vi Thứ Sử hỏi Sư rằng: “Đệ tử có nghe khi Đạt-ma mới giáo hóa cho Lương Võ Đế. Đế có hỏi rằng: "Một đời Trẫm xây dựng chùa chiền, cúng dường chúng Tăng, bố thí thiết trai, vậy có công đức gì không?" Đạt Ma dạy: "Thật chẳng có công đức gì cả". Đệ tử chưa rõ được lý này, mong Hòa Thượng vì đệ tử mà chỉ dạy. Sư dạy:
“Thật chẳng có công đức gì cả, chớ nghi ngờ lời nói của Thánh xưa. Vì Võ Đế mang tâm tà nên chẳng hiểu chánh pháp. Việc xây dựng chùa chiền, cúng dường Tăng chúng, bố thí thiết trai là những việc cầu phước, chẳng thể đem phước đó để làm công đức được. Công đức thì ở trong pháp thân chứ chẳng phải ở việc tu phước.”
Theo Phân kinh thạch đài của Thái tử Lương Chiêu Minh và những điều hỏi của Vua cha Lương Vũ Đế đối với Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma về công đức làm phước theo nhân quả thì ở đây rõ ràng cũng giống việc làm của người con thôi. Vì vậy cho nên Cụ Nguyễn Du mới bảo là “Cha con một nhà đều mù cả” là như vậy.
Qua việc phê bình này rõ ràng Cụ Nguyễn Du không những chỉ thâm hiểu về Giáo lý Đại Thừa không thôi, mà nhất là đối với Thiền tông Cụ cũng thông suốt tất cả về cả hai mặt về lịch sử truyền thừa và tư tưởng, nhất là việc thực hành Thiền tông hằng ngày của Cụ, chúng tôi sẽ đề cập đến sau. Ở đây chúng tôi xin đề cập đến sự thông hiểu Giáo lý Đại thừa của Cụ, nếu đối với Phật giáo Đại thừa mà Cụ chưa thông hiểu thì đương nhiên trong bài thơ này cụ đã không lấy kinh Pháp Hoa ra để làm điển tích thí dụ cùng với kinh Kim Cương một bản kinh được Thiền tông Trung Hoa lấy làm nền tảng tu học cho các tồng đồ của mình. Kinh Pháp Hoa một bản kinh trung gian đưa người Tiểu thừa lên Đại thừa qua nhịp cầu khai Quyền – hiển Thật (Vì Quyền pháp ba thừa dẫn độ chúng sanh nên tạm nói có ba thừa, với mục đích là phương tiện nói Quyền để mà hiển Thật, tức là tạm vì căn cơ chúng sanh mà nói ba thừa để hiển bày một thừa, đó chính là Phật thừa). Từ cửa Tích môn 14 phẩm trước Phật phương tiện nói pháp ba thừa (thời gian nói kinh pháp từ khi Đạo sư thành đạo cho đến Pháp Hoa hội thượng thì pháp ba thừa là phương tiện, quyền pháp, còn pháp nhất thừa, tức Phật thừa mới là Thật pháp) đến cửa Bản môn 14 phẩm sau của Kinh Pháp Hoa (đức Đạo sư thuyết về Thân Phật từ lúc thị hiện Đản sinh cho đến lúc thành đạo dưới bóng cây Boddhi và cho đến nay (lúc nói kinh Pháp Hoa), thân này chẳng phải là thật thân của Ngài, mà đã từ lâu ngài đã thành tựu pháp thân chân thật rồi, vì muốn cứu độ chúng sanh nên Ngài mới phương tiện mượn ứng hóa thân này thành tựu dưới bóng cây Bồ-đề hóa độ mà thôi.) Với mục đích nhằm khai quyền hiển thật mới thật sự nhìn ra được tướng chân thật của các pháp vốn là Không, tướng chúng là tướng Không tịch, xưa nay chúng thường là tướng tịch diệt không sở hữu, như một đoạn trong bài kệ trong Kinh Pháp Hoa
[12] đức Đạo sư dạy Tôn giả Xá-lợi-phất:
“…….
是故舍利弗!  我為設方便,

說諸盡苦道,  示之以涅槃。

我雖說涅槃,  是亦非真滅,

諸法從本來,  常自寂滅相。

佛子行道已,  來世得作佛,

我有方便力,  開示三乘法。

一切諸世尊,  皆說一乘道,
今此諸大眾,  皆應除疑惑,
諸佛語無異,  唯一無二乘。…”

Phiên âm:
“…Thị cố Xá-lợi-phất,
Ngã vị thuyết phương tiện,
Thuyết chư tận khổ đạo,
Thị chi dĩ Niết –bàn.
Ngã tuy thuyết Niết-bàn,
Thị diệc chi chân diệt;
Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng.
Phật tử hành đạo dĩ,
Lai thế đắc tác Phật,
Ngã hữu phương tiện lực,
Khai thị tam thừa pháp.
Nhất thiết chư Thế Tôn,
Giai thuyết nhất thừa đạo;
Kim thử chư đại chúng,
Giai ưng trừ nghi hoặc,
Chư phật ngữ vô dị,
Duy nhất vô nhị thừa …”

Dịch nghĩa:
Cho nên Xá-lợi-phất
Vì phương tiện Ta nói
Thuyết con đường hết khổ
Dẫn đạo đến Niết-bàn.
Tuy Ta nói Niết-bàn
Đó cũng chẳng diệt thật
Các Pháp từ xưa nay
Thường ở tướng tịch diệt.
Phật tử đã hành đạo,
Đời sau được làm Phật;
Ta có sức phương tiện.
Khai mở pháp ba thừa.
Tất cả các Thế Tôn,
Đều nói đạo Nhất thừa,
Nay trong đại chúng này,
Cần phải trừ nghi hoặc,
Chư Phật không khác lời,
Chỉ một, không hai thừa.

Ở đây Cụ nhờ đã thâm hiểu kinh Pháp Hoa của Đại thừa về cốt tủy của nó nên đồng với Kinh Kim Cương trên mặt lập tông chỉ về thật tướng của các pháp, nên Cụ đã đưa kinh Pháp Hoa và Kinh Kim Cương vào đây như là một điển tích, từ đó phương tiện phá hủy mọi hình thức có tính ước lệ trói buộc, mà đi sâu vào thật tướng của các pháp, xa lìa hết mọi vọng tưởng phân biệt chấp trước của các pháp hữu vi hữu lậu, đạt đến cứu cánh Không tịch Niết-bàn tối hậu. Chỉ có như vậy mới hiểu đúng và đi đúng con đường Trung Đạo của đức Đạo sư để lại mà thôi. Đó là sự thâm hiểu Phật pháp Đại thừa qua kinh Pháp Hoa và kinh Kim cương của Cụ, và nhất là Cụ Nguyễn Du đã lựa chọn bộ kinh Kim Cương lấy làm nền tảng cơ bản cho pháp tu của mình, trong thực hành tu tập thường ngày khi chưa thâm ngộ ra thực tướng của các pháp. Theo chân lý tối hậu của đức Đạo sư thì khi chúng ta chưa tỏ ngộ được cảnh giới sắc không thì như cụ đã nói lòng mê theo Phật cũng thành ma, dù chúng ta có nói đến cảnh giới thực chứng của thánh trí đi chăng nữa thì, cảnh giới đó cũng biến thành ma như trong kinh Viên Giác đức Đạo sư đã dạy ngài Kim Cang Tang và, ở đây với cụ Nguyễn du cũng vậy: “Lòng mê theo Phật, Phật thành ma.” Cho nên theo cụ khi chúng ta chưa ngộ đạo thì chúng ta đang sống với cảnh giới mê vọng, nên trong mọi ý nghĩ khởi lên đều mang hình bóng của mê lầm, mà theo đức Phật thì thế giới mê lầm vọng tưởng là thế giới của ma.
Vì sao thế giới vọng tưởng mê lầm gọi là thế giới của ma, vì ma đại diện cho thế lực vô minh vọng tưởng điên đảo sai lầm tạo ra khổ đau, vì vậy nên đức Phật bảo muốn thoát khổ được vui an ổn hạnh phúc thật sự thì phải giải thoát khổ qua con đường trung đạo bát chánh. Cũng vì lý do này nên cụ Nguyễn Du đã khuyên cáo các vị Tăng sau này trong đó có chúng ta là: “Một niệm khởi lên ma tự đến.” Hãy cẩn thận trong mọi ý nghĩ mang mầm móng trói buộc phiền não khổ đau. Vì mọi ý nghĩ của chúng ta khi còn là chúng sanh thì ý nghĩ khởi lên đều mang mần móng của khổ đau và trói buộc phiền não do ba độc tham sân si gây nên cả. Đây chính là tác nhân vọng tưởng điên đảo của ma mà chúng ta gây nên và sau đó sẽ đưa đến những thọ quả tương ứng với những tác nhân mà chúng ta đã gây ra. Tất cả mọi hiện tượng tâm vật lý của thế giới quan có được này đều phát sinh từ chánh báo (nghiệp báo chính mà chúng ta đã tạo ra kiếp trước nay thọ quả báo qua kiếp người trong hiện tại) cùng y báo (xứ sở là duyên đủ và hợp với chánh báo nơi chúng ta sinh ra) của các hữu tình chúng sanh cả, chúng lệ thuộc vào luật tắc nhân quả mê lầm điên đảo của hữu lậu pháp tạo ra chứ không có bất cứ hiện tượng nào được gọi là ngẫu nhiện hay tự nhiên sinh ra, mà chúng phải do nhân duyên đủ hòa hợp nhau mà hiện hữu:

一 念 之 中 魔 自 至
山 陵 不 涌 蓮 花 臺
白 馬 朝 渡 長 江 水
楚 林 禍 木 池 殃 魚
經 卷 燒 灰 臺 亦 圯
空 留 無 益 萬 千 言
後 世 愚 僧 徒 聒 耳


Phiên âm:
“Nhất niệm chi trung ma tự chí.
Sơn lăng bất dũng liên hoa đài.
Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy,
Sở lâm họa mộc trì ương ngư,
Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ.
Không lưu vô ích vạn thiên ngôn,
Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ.”

Dịch nghĩa:
“Một niệm khởi lên ma tự đến.
Lăng tẩm, đài sen không tự mọc,
Một sớm trường giang bạch mã qua,
Cây lây rừng Sở ao cá vạ,
Kinh đốt ra tro đài sập luôn.
Muôn vạn nghìn lời thôi vô ích,
Tăng ngu hậu thế miệng lải nhải.”

Trong một niệm khởi lên phải phát xuất từ một nguyên nhân nào đó, lăng tẩm không tự dưng mọc lên đài sen, ngựa trắng vượt trường giang vào một sớm không phải là không có nguyên nhân, nguyên nhân đưa đến kết quả rừng Sở cháy và, rừng Sở cháy là nguyên nhân đưa đến vạ lây cho cá, kinh đã đốt đâu còn nữa, đài cũng sập luôn, tất cả mọi hiện tượng sinh ra và biến dịch đi đều có nguyên nhân của nó. Chúng bị luật vô thường chi phối, không có bất cứ hiện tượng tâm vật lý nào tồn tại mãi mãi với thời gian, do đó chúng ta không thể chấp vào bất cứ vào hiện tượng có được do nhân duyên đủ hòa hợp mà hiện hữu đó cho là có thật là chân lý, mà chúng chỉ là những hiện hữu giả hợp, giả danh do nhân duyên sinh ra, nên chúng không có tự tánh hay bản thể nhất định nào và, như vậy chúng là không, không có sở hữu. Vậy thì viêc gì chúng ta phải nhiều lời về chúng, vì những hiện hữu đó rồi sẽ bị luật vô thường chi phối không còn là chính nó nữa, nên sự đánh giá của chúng ta về sự hiện hữu tạm thời này là không đúng như cụ Nguyễn Du đã cảnh cáo trong câu: “Muôn vạn nghìn lời thôi vô ích.” nhiều lúc làm hại cho người đi sau và, nhất là những vị tăng vô học đời sau sẽ dựa vào đó mà rêu rao thuyết giảng nhảm nhí! Chúng chả có ích lợi gì, khi chúng không còn là chính chúng trong giây phút sau đó, như một tế bào chẳng hạn, điều này chúng rất phù hợp với nền khoa học hiện đại của chúng ta đang phát triển. Qua đây chúng ta thấy kiến thức và sự thâm hiểu Phật giáo Đại thừa của cụ Nguyễn Du thật là sâu sắc và chính xác; để từ sự thâm hiểu sâu xa và chính xác này đã đưa cụ Nguyễn Du đến việc thực hành Phật giáo Thiền tông qua kiến thức thông hiểu lịch sử truyền thừa Thiền Tông từ Ấn Độ đến Trung hoa như dưới đây chính cụ đã tự viết lên sự thật đó.

“吾 聞 世 尊 在 靈 山
說 法 渡 人 如 恆 河 沙 數
人 了 此 心 人 自 渡
靈 山 只 在 汝 心 頭
明 鏡 亦 非 臺
菩 提 本 無 樹.


Phiên âm:
“Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhơn như Hằng hà sa số
Nhơn liễu thử tâm nhơn tự độ
Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ-đề bổn vô thọ.

Dịch nghĩa:
Tôi nghe Thế tôn tại Linh Sơn,
Nói pháp độ người như số cát
[13].
Người tỏ tâm này người tự độ,
Linh sơn chỉ tại tấm lòng ngươi.
Gương sáng trong veo cũng không đài,
Bồ-đề xưa nay vốn không cây.


Như trên chúng tôi đẽ đề cập đến, Linh Thứu sơn chính là đỉnh núi đức Thế Tôn đã mở ra pháp hội truyền trao Phật tâm tông cho người đồ đệ của mình là Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, như lịch sử truyền thừa của phái này đã truyền dạy. Chính trong pháp hội Linh Sơn đức Thế Tôn ở giữa đại chúng cầm cành hoa giơ lên giữa mọi người và im lặng; nhưng trong chúng này không có một người nào thấu hiểu được việc làm của đức Đạo sư mang ý nghĩa gì, nên mọi người hoàn toàn im lăng, duy nhất chỉ có một mình Tôn giả Ma-ha Ca-diếp là rạng mặt mỉm cười, đức Đạo sư liền tuyên bố: “Ta có chánh pháp nhãn tạng diệu tâm Niết-bàn, thực tướng vô tướng, bất lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo. Nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp tôn giả.”[14] Từ Tôn giả Ma-ha Ca-diếp truyền xuống Tôn giả A-nan và cho đến Bồ-đề Đạt-ma Tổ 28 của Ấn Độ và cũng là Tổ thứ nhất của Thiền tông Trung Hoa. Từ Bồ-đề Đạt-ma truyền xuống Đại sư Huệ Năng tổ thứ sáu của Trung Hoa. Qua đoạn thơ trên Cụ Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy rằng không những cụ chỉ thâm hiểu sâu xa về Phật giáo Đai thừa không thôi, mà ngay đến thiền sử truyền thừa bên Thiền tông Người cũng nắm vững một cách rõ ràng và hệ thống. Thiền Trung hoa nổi lên từ Lục Tổ mà vị Tổ thứ năm là Thiền sư Hoằng Nhẫn thầy truyền lại y bát cho Lục Tổ Huệ Năng qua Kinh Kim Cương, nhưng bài kệ nổi tiếng của ngài Huệ năng như dưới đây, không phải là bài kệ chính thức ngộ đạo của Ngài:

“菩 提 本 無 樹
明 鏡 亦 非 臺
本 來 無 一 物
何 處 惹 塵 埃。
[15]”


Phiên âm:
Bồ đề bổn vô thọ
Minh kính diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?


Dịch nghĩa
“Bồ-đề vốn không cây
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Nơi nào bụi nhơ bám?”

Mà nó phát xuất từ cuộc đối đầu lại tư tưởng Thiền học của Thần Tú qua bài kệ:

“身 是 菩 提 樹
心 如 明 鏡 臺
時 時 常 拂 識
勿 使 惹 塵 埃。”


Phiên âm:
Thân thị Bồ-đề thọ
Tâm như minh kính đài
Thời thời thường phất thức
Vật sử nhá trần ai.
[16]


Dịch nghĩa:
“Thân là cây Bồ-đề

Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn siêng lau chùi
Chớ đẻ bụi nhơ bám!”

Nhằm để phủ định phương pháp Thiền tiệm tu luôn luôn siêng lau chùi bụi nhơ nơi tâm mình của Đại sư thần Tú, mà chủ trương ngược lại chỉ cần thấy tánh tức khắc thành Phật không cần phải siêng năng lau chùi như chủ trương của Thần Tú qua hai câu: “Người tỏ tâm này, người tự độ, Linh Sơn chỉ tại tấm lòng ngươi!”. Linh Sơn ở đây chỉ là một ẩn dụ được cụ đưa ra để tỏ ra chính nó là cõi lòng của mỗi người. Thứ nữa là nói lên tinh thần không một vật xưa nay của các pháp vốn không, không có sở hữu vì tính duyên khởi tính không của chúng. Đó là những gì cụ Nguyễn Du đã học hỏi được từ lịch sử Thiền từ Pháp Hội Linh Sơn nơi đất Ấn Độ đến Hoàng Mai nơi đất Trung hoa, cụ đã mượn nửa bài kệ trên của Lục Tổ Đại sư dạy lại cho chúng ta nhân cuộc viếng thăm Phân kinh thạch Đài của Thái tử Lương Chiêu Minh nhà Lương Trung quốc. Qua đoạn thơ trên cụ cho chúng ta thấy rằng, Núi Linh thứu là một danh sơn, nơi xưa kia đức Đạo sư đã từng thuyết nhiều bộ kinh Đai thừa quan trọng và, độ vô số chúng sanh như số cát sông Hằng, mà Cụ đã nhắc lại trong bài thơ này. Nơi đây cũng là nơi chính đức Đạo sư truyền trao chánh pháp nhãn tạng cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp vị Tổ đầu tiên của Thiền tông Ấn Độ để truyền mãi về sau này sang Trung quốc qua hai câu cụ mượn lại trong bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng : “Gương sáng trong veo cũng không đài, Bồ-đề xưa nay vốn không cây.” để phủ định những hiện tượng đang hiện hữu có được đều là hư vọng như trong kinh Kim cương chính đức Đạo sư đã dạy: “Phàm vật gì có tướng đều là hư vọng”
[17]. Từ những thâm hiểu về Phật giáo Đại thừa và nhất là đối với Thiền tông nên từ đó Cụ đã trở thành một hành giả tu tập thiền theo Kinh Kim Cương. Không biết sự tu tập Thiền của Cụ có Thầy hướng dẫn hay không? Điều này chúng ta không thấy trong văn thơ Cụ để lại, nhưng có một điều chính đích thân cụ nói ra trong thơ văn của mình là đã từng đọc tụng hàng nghìn lần kinh Kim Cương đó là một việc có thật như đoạn thơ kết của bài thơ trong Phân Kinh Thạch Đài dưới dây:

我 讀 金 剛 千 遍 零
其 中 奧 旨 多 不 明
及 到 分 經 石 臺 下
終 知 無 字 是 眞 經 .”

Phiên âm:


Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,


Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh .”


Dịch nghĩa:
Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến,

Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.

Cho đến dưới đài đá phân kinh,

Cuối cùng “Vô tự” biết là chân kinh.”

Việc độc tụng kinh Kim Cương, nếu như không phải là một hành giả tu Thiền tông thì dứt khoát không bao giờ có ai bỏ hàng nghìn lần ra để ngồi đó mà đọc tụng kinh Kim Cương chơi hay nghiên cứu, mà chỉ có những hành giả hành hành trì Thiền tông mới làm được những việc này. Vì bản thân bộ kinh Kim Cương không phải là một bộ kinh dễ đọc tụng, vì chúng đòi hỏi người độc tụng phải có trình độ căn cơ vượt lên trên hệ thống nhân quả, phải là người nắm bắt được thật tướng của các pháp qua kiến thức nhờ vào định thức Duyên khởi mới có thể phù hợp với bản kinh này. Nếu người nào không có trình độ này thì chỉ cần độc tụng qua một lần thì sẽ thối lui, hoặc có độc tụng đi nữa cũng dưới dạng độc tụng để tu phước mà thôi. Hơn nữa như chính Cụ Nguyễn Du trong bài thơ đề động Nhị Thanh đã từng viết là:

“…
滿 境 皆 空 何 有 相
此 心 常 定 不 離 禪。

Phiên âm:
"… Mãn cảnh giai không hà hữu tướng
Thử tâm thường định bất ly Thiền...”
[18]

Dịch:
… Mọi cảnh đều không, có tướng sao?
Tâm này thường định, chẳng lìa Thiền…”


Đích thị là Cụ đã tự giới thiệu cho mọi người biết là Tâm cụ không bao giờ lìa Thiền định, có nghĩa là cụ luôn luôn ở trong thiền định. Vậy thì những việc làm của Cụ đó không phải là một việc làm của hành giả đang hành Thiền tu tuệ đó là gì!? Vì cốt tủy của bộ kinh Kim Cương chính là một phương pháp tu để trụ tâm và hàng phục Tâm mình qua công án: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm?
[19] (Nên trụ vào không chỗ, mà sinh tâm mình.)”. Xưa kia Lục Tổ Huệ Năng cũng qua Công án này mà ngộ lý Thiền và, bây giờ Cụ Nguyễn Du cũng qua Kinh Kim Cương để thực tập Thiền hàng nghìn lần độc tụng và cuối cùng Cụ cũng tỏ ngộ được bộ kinh này qua “Đài đá phân kinh” nhân tố cuối cùng của một quá trình tu tập đó đã làm bùng vỡ nghi tình của công án Thiền thuộc kinh Kim Cương. Nó là giọt nước cuối cùng đổ vào công án nghi tình này làm bùng vỡ tâm hữu vô của Cụ. Qua việc ngộ kinh Kim cương này cụ giờ đây đích thực là một thiền sư, là Thiền sư Tố Như – Nguyễn Du theo nghĩa truyền thửa của nó chứ không còn là một học giả Phật học hay học giả của Thiền tông chỉ hểu biết qua trên mặt kiến thức không thôi.
Qua bài thơ này Cụ Nguyễn Du đã tự giới thiệu cho chúng ta biết rằng Cụ là người thông hiểu Phật pháp Đại thừa và nhất là thông hiểu lịch sử truyền thừa Thiền Tông và không những thế chính Cụ là một hành giả tu tập Thiền tông như thế nào? Ở đây chúng tôi không phải là những người không thông hiểu gì về Phật giáo và nhất là văn thơ chữ Hán của Cụ để rồi tự tưởng tượng ra một thứ Phật giáo theo kiểu của mình rồi áp đặt lên cho cụ, mà chính những gì cụ là người thông hiểu và hành trì Phật giáo theo cách riêng của Cụ mà viết về chính mình đã am hiểu và thực hành Phật giáo như vậy. Những gì Cụ đã viết về Phật giáo của chính Cụ như vậy, nếu chúng ta đem so sánh với những bài viết của những nhà học giả nghiên cứu phê bình văn học Việt nam từ trước cho đến nay, hoàn toàn là những cái nhìn sai lạc về Phật giáo theo cách am hiểu và thực hành của chính cụ. Theo tinh thần và nội dung của bài thơ này chúng ta thấy nó không phù hợp gì với những cách nhìn về Phật giáo của Cụ Nguyễn Du qua truyện Kiều cả. Qua đây chúng ta mới thấy việc nghiên cứu về một tác giả về một khuynh hướng nào đó, nhất là vấn đề tôn giáo chúng ta nên cẩn trọng: Thứ nhất phải hiểu qua toàn bộ sự nghiệp văn chương của tác giả và nhất là những đối tượng mang tính cách tư tưởng tôn giáo và triết học, chúng ta phải biết rành và thông hiểu về những phạm trù đặt biệt này, nếu hai vấn đề này mà chúng ta không nắm vững thì tốt nhất là đừng nên viết về họ và viết về những phạm trù đặc biệt mà chúng ta không am hiểu, hay am hiểu một cách cạn cợt nửa vời rồi đem áp đặt quan điểm của mình lên cho tác giả đó. Ở đây khi nghiên cứu về truyện Kiều của cụ Nguyễn Du viết về Phật giáo cũng vậy, chúng tôi thấy những nhà học giả nghiên cứu phê bình viết về Phật giáo trong Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du, họ viết theo lối tưởng tượng áp đặt quan điểm hiểu biết cạn cợt nửa vời hay sai lạc của mình về Phật giáo rồi cho đó là quan điểm của Cụ Nguyễn Du về Phật giáo trong truyện Kiều. Như quan điểm của cụ Đào Duy Anh viết về Phật giáo theo Cụ Nguyễn Du, “Thực ra tư tưởng nhờ thiện tâm mà giảm nhẹ bớt được nghiệp chướng để hưởng thụ ngay ở kiếp này thì không đúng hẳn với quan niệm nhân quả thuần túy của nhà Phật, nhưng nó lại rất đúng với quan niệm nghiệp báo hay báo ứng phổ thông trong dân gian.”
Còn Cao huy Đỉnh thì viết “Phải chăng đây là mối cảm tình đặc biệt của Nguyễn Du và thời đại ông đối với Phật giáo? Nó át hẳn cái lý của Nho giáo mà ông phải theo một cách gượng gạo. Chữ ‘nghiệp’ [làm] mê muội và an ủi tâm hồn yếu đuối quả đã hấp dẫn được lòng người đang sợ hãi cái thực tại đầy đau thương và thổi thêm luồng gió bi quan vào trong cơn bão táp thời đại Nguyễn Du và trong Truyện Kiều.”
Và Trần Đình Sử viết: “Thực ra đạo Phật đã bị khúc xạ khi đi vào truyện Kiều. Nhận xét về sự hỗn dung, pha trộn Phật – Nho là rất có căn cứ. Trong thơ chữ Hán đã có nhiều bài, nhiều câu thể hiện cho tư tưởng Phật như: “Hà năng lạc phát “ (Làm sao có thể gọt tóc vào rừng đi tu), “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng, thử tâm thường định bất ly thiền” (Đầy trời là không, không hình tướng, tâm này thường định vào ý thiền). Còn trong truyện Kiều thì nghiệp và mệnh trời bổ sung cho nhau, nhân ái và từ bi bổ sung cho nhau. Nhưng tính chất dung hợp cũng đã làm nhạt nhòe tư tưởng Phật giáo.”
Phật giáo của Cụ Nguyễn Du trong tuyện Kiều có phải như những tác giả trên đã viết như vậy hay không? Hay đó chỉ là những tưởng tượng theo cái nhìn cá nhân của họ rồi bảo cụ quan niệm Phật giáo như vậy theo phạm trù tư tưởng của họ để viết về phạm trù tư tưởng Phật giáo của Nguyễn Du qua truyện kiều!? Qua sự thâm hiểu Phật pháp của cụ Nguyễn Du như trong bài thơ trên đúng là chúng không liên hệ gì đến một cái Phật giáo được họ hiểu mù mờ gượng ép đồng hóa với dân gian xã hội, trong khi Phật giáo cụ Nguyễn Du đưa vào truyện Kiều là để phủ định quan điểm Thiên mệnh của Nho giáo vào lúc bấy giờ của cụ Nguyễn Du. Điều này muốn tìm hiểu rõ xin quí độc giả tìm đọc bài “Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng Phật giáo như thế nào?” (trong “THỎNG TAY VÀO CHỢ” NXB Văn Hóa Sài Gòn 2007 tháng 12, của Đại Lãn). Có lẽ những nhà học giả phê bình trên do vì không am hiểu Phật giáo, nhất là những thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo, cho nên dù ai là người giỏi Hán ngữ nhiều đến đâu, nhưng đối với những thuật ngữ chuyên môn của nhà Phật mà không am hiểu thì cũng phải hiểu sai tư tưởng và dịch sai mà thôi. Ở đây chúng tôi đơn cử tác giả Trần Đình Sử trong Thi pháp truyện Kiều có đưa ra những câu thơ có ảnh hưởng đến Phật giáo của cụ Nguyễn Du đã hiểu và dịch sai ý tác giả; qua kiểu dịch như vậy thì, đúng là họ đã làm hại Nguyễn Du và làm hại Phật giáo, chỉ vì họ không am hiểu những thuật ngữ Phật giáo mà cụ Nguyễn Du đã dùng trong thơ của cụ như câu thơ: “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng, thử tâm thường định bất ly thiền” mà tác giả Trần Đình Sử dịch như vầy (Đầy trời là không, không hình tướng, tâm này thường định vào ý thiền). Chữ “cảnh” ở đây mà dịch là “trời, bầu trời” thì không đúng và sai nghĩa hoàn toàn. Vì chữ “Cảnh” ở đây nó là một thuật ngữ của Phật giáo chỉ cho những đối tượng của “Căn”, tức là chỉ cho năm “trần cảnh” ở bên ngoài thân con người như sắc, thinh, hương. vị, xúc; chúng là những đối tượng của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân con người, mà thuật ngữ Phật giáo thường gọi là “Ngũ căn” (năm căn), còn chữ Cảnh thường gọi là “Ngũ cảnh” hay “Ngũ trần cảnh”. Ở đây vì tác giả Trần Đình Sử không am hiểu thuật ngữ của Phật giáo nên đã dịch sai câu thơ này của cụ Nguyễn Du. Câu thơ trên chúng ta phải dịch như vầy: “Mọi vật đều không, có tướng nào? Mọi vật ở đây chỉ cho mọi hiện tượng bên ngoài như núi sông nhà cửa cây cối, những vật gì có hình tướng để mắt chúng ta thấy được đều thuộc về “sắc”, cùng những âm thinh, tiếng động mà tai chúng ta nghe được chung quanh, gọi là “thinh”, và những mùi thơm, hôi, thối v.v… mà mũi chúng ta ngửi thấy được thuộc về “hương” những vị đắng, cay, ngọt, bùi v.v… mà lưỡi chúng ta nếm được thuộc “vị”, cùng những vật chung quanh khi chúng ta tiếp xúc có lạnh, nóng, ấm, mát, trơn, nhám v.v.. qua thân thì thuộc về “xúc”. Tất cả những vật này đều là không, vì sự hiện hữu của chúng là do các duyên đủ hòa hợp mà thành, vậy cái thành này là giả hợp, nên sự hiện hữu này không có thật thể; chúng cũng sẽ theo duyên mà biến dịch không còn nữa theo luật vô thường tác động, nên chúng không có bất cứ một bản tính nào nhất định để gọi là thật có cả, cuối cùng chúng là không. Thì chữ Không này mới là chữ không của Phật giáo, là chữ không của cụ Nguyễn Du dùng trong bài thơ này, chứ không phải nghĩa không là trống rỗng, không có gì hết, hay là hư không. Vì ở đây tác giả Trần Đình Sử hiểu chữ “giai không” có nghĩa là không trống rỗng, không có gì hết nên dịch sai chữ “cảnh”, và còn một chữ “Hà” trong câu thơ tác giả Trần Đình Sử bỏ không dịch, vì chữ hà theo ngôn ngữ Thiền thì nó là một chữ rất quan trọng trong việc tạo ra nghi tình cho hành giả khi tu tập. Theo ngôn ngữ Hán thì dịch như vậy không sai nhưng đối với thuật ngữ tư tưởng Phật giáo lại hoàn toàn sai và thiếu sót. Còn câu thơ tiếp Trần Đình sử dịch như vậy cũng chưa hoàn chỉnh mà còn xa lìa ý của cụ Nguyễn Du nữa. Ở đây theo Cụ, không lìa Thiền, tức là tâm của Cụ luôn luôn định một chỗ, đó là Thiền. Vậy Thiền ở đây là “Thiền sự” chứ không phải “Thiền ý” như tác giả đã dịch, vì Cụ đã và đang thực tập Thiền theo Kinh Kim Cương trong độc tụng như Cụ đã nói trong bài thơ. Vì vậy cho nên khi chúng ta nghiên cứu về một tác phẩm của một tác giả nào đó phải am hiểu hai việc mà chúng tôi đã nêu ra, nếu không việc nghiên cứu của chúng ta trở thành vô ích không có giá trị. Khi chúng ta viết về người khác thì phải trung thực với những liên hệ đối với tác giả đó về mọi mặt nếu có, nếu không vậy thì những nhận xét của chúng ta thiếu khách quan và trở thành những cưỡng ép chủ quan thiếu tính thuyết phục, tự biến mình thành những người thiếu liêm khiết tri thức.
Tóm lại qua bài thơ này cụ Nguyễn Du cho chúng ta thấy rằng Cụ không những là một người am hiểu sâu xa về Phật giáo mà còn là một hành giả tu tập Thiền tông qua Kinh Kim Cương và, cuối cùng kết quả đạt được là đã thấu triệt ngộ nhập được Không lý của Phật giáo để trở thành một Thiền sư thực thụ theo tính truyền thừa, cho dù không người để ấn chứng cho những sở ngộ của cụ vào lúc đó; nhưng với những gì Cụ đã để lại qua văn thơ đã nói lên được giá trị đích thực của một hành giả tu tập Thiền và những kết quả có được qua “Vô tự” thị chân kinh thì chúng ta không nghi ngờ gì nữa về giá trị đích thực của nó là một Thiền sư theo nghĩa như thực. Ở đây chúng tôi không phải làm cái việc “Thấy người sang bắt quàng làm họ.” mà đó chính là cái giá trị đích thực của một hành giả đã từng cưu mang “Thử tâm thường định bất ly Thiền” trong cuộc sống của Người. Và cũng nhờ cái giá trị đích thực này mà Cụ đã được những người đi sau tôn vinh như là người thông đạt sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời như Mộng Liên Đường chủ nhân đã khen qua truyện Kiều
[20]. Vì theo nhà Phật chỉ có những vị đạt ngộ mới thông hiểu được các pháp, mới thông suốt ba cõi, sáu đường và, tấm lòng mới nghĩ suốt cả nghìn đời mà thôi.



[1] Thái tử Chiêu Minh đời nhà Lương.
[2] Cát sông Hằng.
[3] Tập san Khai Trí Tiến Đức số 1. năm 1940.
[4] Khảo luận về “Truyện Thúy Kiều”. Quan hải tùng thư, Huế, 1943.
[5] Triết lý đạo Phật trong truyện Kiều, trong sách kỷ niệm 200 năm, năm sinh Nguyễn Du, NXB Khoa học xả hội, 1967.
[6] Thi pháp Truyện kiều, Trần Đình Sử, nhà xuất bản Giáo Dục, 2005.
[7] Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại sư đã lấy kinh Kim Cương cho các đệ tử dưới trướng của mình tu tập độc tụng và, Lục Tổ Huệ năng cũng nhờ vào cậu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (應 無 所 住 而 生 其 心) trong kinh Kim Cương mà ngộ lý thiền. Pháp bảo Đàn Kinh. Đ. 48.
[8] Giáo ngoại biệt truyền. Đ.84, tra. 166c.
[9] Thái tử Chiêu Minh đời nhà Lương.
[10] Kinh Kim Cương, bản Kinh mà cụ Nguyễn Du đã từng độc tụng hàng nghìn lần.
[11] Pháp bảo Đàn Kinh, Phẩm nghi Vấn, Đ. 48. tra. 351c
[12] Phẩm Phương tiện, Kinh Pháp Hoa, Đ. 09a, tra. 0007c
[13] Cát sông Hằng.
[14] Ngũ Đăng hội Nguyên. Đ. 80, tra. 0028b
[15] Pháp Bảo Đàn Kinh, Phẩm Hành Do
[16] Pháp Bảo Đàn Kinh, Phẩm Hành Do.
[17] Đ. 07, tra. 0749a. Kim Cương Bát-nhã kinh. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng, (凡所有相,皆是虛妄)
[18] Đề Nhị Thanh động.
[19] Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh. Đ.07, tra. 0749c
[20] “Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấy cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nài có cái bút lực ấy.” So sánh dị bản Truyện Kiều của Lê Quế, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội 2006.

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post




Không phải ngẩu-nhiên ngài Huyền-Quang trở thành tổ thứ ba trong Thiền Trúc Lâm Yên-Tử Việt-Nam, mà ngài phải trải qua một kinh nghiệm kỷ-luật tâm-linh nào đó, được thể hiện qua truyền trao tâm ấn giữa thầy và trò, như sử đã ghi lại về phương diện kế thừa, cũng như chính ngài đã xác quyết trong bài thơ: “ Nhân có việc đề ở chùa Cứu lan” qua câu: “ Đức bạc thường tàm kế Tổ đăng.” Nhưng những tài liệu về kỹ thuật tâm linh này quá ít ỏi, hiện tại chúng tôi không có, ngoài hai bài đốâi thoại giữa Pháp loa và Huyền quang (trong Tam tổ Thực lục) thì qua hai mẫu đối thoại này, chúng không mang một tín hiệu nào khả dĩ để chúng ta có thể tin tưởng vào đó, mà xác định về bước tiến tâm linh của ngài.
Ở đây, chúng tôi không còn cách nào hơn, phải quay sang tìm kiếm trong thi phú, may ra có thể có một tín hiệu nào chăng?
Qua mười bốn bài thơ của ngài Huyền quang, đã cho chúng tôi một cái nhìn vừa ngạc nhiên, vửa bất ngờ, trong con người thi sĩ mang đậm chất trữ tình, mà từ xưa tới nay không một ai không công nhận, ngài là một thi sĩ hơn là một Thiền sư. Thật sự đối với tôi, khi mới đọc sơ qua lần đầu, chúng tôi vẫn có ý ghĩ như vậy, nhưng đến lần thứ hai đọc kỹ hơn, thì nạc nhiên và bất ngờ đến với chúng tôi, là toàn bộ tất cả những bài thơ của ngài nó chuyên chở một hệ thống chuyển hướng tâm linh, mà chúng chỉ được thể hiện qua đó, một vài nét chấm phá chủ động, đã lôi cuốn toàn bộ bối cảnh không gian, thời gian, người vật, đồ vật, tất cả đều tham gia dung nhiếp một cách hài hòa vào một nhất thể trong từng bài thơ một. Đó là một đặc trưng tạo ngạc nhiên và bất ngờ đối với chúng tôi, cũng là nét tài hoa của Thiền sư Huyềng quang.
Qua thi ca mặc dù ngài rất ít dùng thuật ngữ của nhà Thiền nói riêng và Phật giáo nói chung. Nhưng không thể vì thế, chúng không cho chúng ta một dấu hiệu nào khả dĩ nói lên tư tưởng siêu thoát, tự tại trong ngài. Mà ngược lại chúng nói rất rõ tiến trình kinh nghiệm kỹ thuật tâm linh của ngài nhằm gởi gắm lại người sau.
Trước hết, bằng vào kinh nghiệm sống qua cuộc đời, khi còn là một sĩ tử, ngài đã nhận ra cái thế thái nhân tình qua hai câu thơ:
“ Khó khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ Trạng, tám nghìn nhân duyên.”
(thơ văn Lý-Trần II)

Từ cái nhìn về nhân sanh quan, ngài thấy được cái bạc bẽo, bỉ ổi, chua chát của người đời, đến cái nhìn về vũ trụ, ngài bắt nhịp với cái thay đổi về vô thường qua mau trong cuộc sống, đã khiến cho cái cô đơn được nâng lên đến vô tận. Ngài viết:

“ Lạng châu nhân vật thủy lưu đông,
Bách tuế quang âm nhiễn chỉ trung.
Hồi thủ cố sơn ngưng vọng xứ,
Sổ hàng qui nhạn thiếp tình không.”
Dịch:
“ Về đông nước chảy, người Châu lạng,
Ngày tháng, trăm năm một thoáng nhanh.
Nuí cũ, ngoảnh đầu đăm đắm ngóng,
Nhạn về in bóng giữa tầng xanh.”

Ở đây, thái độ ngoảnh đầu về núi là một thái độ tự qui, bắt đầu dự báo cho một phản tỉnh sau này. Đây là một nét chấm phá quyết định cho cả một vận mệnh cô đơn trước cơn vô thường luôn luôn chờ chực trong từng hơi thở, và bắt đầu cho một chuyển hướng trong tư tưởng. Ngài viết:

“ Phú quí phù vân trì vị đáo,
Quang âm lưu thủy cấp tương thôi.
Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ,
Nhất tháp tùng phong trà nhất bôi.
Dịch:
“ Giàu sang mây nổi đến chậm rì,
Năm tháng nước trôi thôi thúc qua.
Sao bằng về ẩn nơi rừng suối,
Một giường thông gió một ly trà.”

Cái nhìn từ nhân sanh đến cái nhìn về vũ trụ, đã bắt đầu cho một chuyển hướng tư tưởng mới. Nếu đứng về mặt liên hệ xã hội, thì tư tưởng này có vẻ bi quan yếm thế tiêu cực, nhưng đứng về mặt hoàn thành một con người như thật, thì tư tưởng phản tỉnh trở về này là một tư tưởng lạc quan tích cực. Vì theo nhà Phật, một thế giới được gọi là cực lạc hay hạnh phúc, thì trước hết thế giới ấy, tất cả mọi cá nhân phải hoàn thành một con người như thật con người trước đã, và theo đó xã hội sẽ tùy thuộc vào mỗi cá thể đó.
Ở đây, qua biểu hiện “tiểu ẩn” đã noí lên được một chuyển biến tâm linh của ngài trong công cuộc trở về sống với chính mình, mà từ lâu đã xa nguồn, xa nơi chôn nhau cắt rốn ban sơ. Một cuộc tạo phản về nguồn, đã mở ra cho ngài một nhãn quan mới về cách nhìn từ “phản quan thế giới” để đi đến tuệ nhãn sinh, cho một thế giới mở toang ra hoàn toàn mới mẻ không thể ngờ được Ngài viết:

“ Vũ khuê quá sơn tịnh,
Phong lâm nhất mộng lương.
Phản quan trần thế giới,
Khai nhãn túy mang mang.”
Dịch:
“ Hết mưa khe nuí sạch,
Rừng phong giấc mộng tươi.
Quay nhìn buị thế giới,
Mở mắt mang mác say.”

Qua hai câu cuối của bài thơ, ngài Huyền quang đã nói lên cái tiến trình tâm linh thay đổi, từ nhãn quan của đôi mắt thịt tự phản, đã đưa đến sự đột biến của con mắt tuệ nhãn thứ ba phát sinh, và một thế giới hoàn toàn mới mẻ mở toang ra ngay trên tự tướng chính nó. Ở đây, muôn vật chung quanh không có gì thay đổi, mà chỉ có tâm thức thay đổi, do đó cái nhìn mới mẻ như thật chính nó, đối với thế giới chung quanh. Đây chúng ta theo dõi cái nhìn mới mẻ của ngài Huyền quang:

“ Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên phương kinh lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiên hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành giá tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung, Phật quốc hảo sinh quan.”
Dịch:
“Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn,
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan.
In ngược hình chim, gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn.
Muôn duyên chẳng vướng xa trần tục,
Một mảy nào lo rộng nhãn quan.
Thấu hiểu thị phi đều thế cả,
Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn?”
(Huệ chi Thơ văn Lý-Trần)

Cái nhìn mới mẻ ở đây, là cái nhìn vượt lên trên nhân quả của trí phân biệt nhị nguyên như: thị-phi, Ma-Phật, mọi pháp ở đây đều ở trong trrạng thái bình đẳng, vô phân biệt. Từ cái nhìn này, đã đưa Thiền sư đến một nếp sống mới “ muôn duyên chẳng vướng” hay “ một mảy nào lo.” Đó là nếp sống của ngài Huyền quang, từ nếp sống mới này Thiền sư Huyền quang đã thật sự tự tại trong cuộc sống. Ngài hòa nhập vào bất cứ nơi đâu, với tâm vô phân biệt thì cho dù nơi đó núi rừng hoang vắng, sông nước mênh mông, đồng mông hoang dã hay bất cứ đâu đâu chăng nữa, thì nơi đó không đủ khả năng làm vướng bận chân ông. Đây chúng ta hãy theo dõi cuộc sinh hoạt phiêu bồng thường ngày của ông, từ đồi núi cheo leo ngút ngàn mây phủ. Ngài viết:

“ Am bức thanh tiêu lãnh,
Môn khai vân thượng tầng.
Dĩ can long động nhật,
Do sích hổ khê băng.
Bão chuyết vô dư sách,
Phù suy hữu sấu đằng.
Trúc lâm đa túc điểu,
Quá bán bạn nhàn Tăng.”
Dịch:
“ Am sát trời xanh lạnh,
Cửa mở trên tầng mây.
Động rồng trời sáng bạch,
Khe hổ lớp băng đầy.
Vụng dại mưu nào có,
Già nua gậy một cây.
Rừng tre chim chóc lắm,
Quá nửa bạn cùng Thầy.”

Ở đây, kế sống của ngài Huyền quang, được thể hiện qua câu “ Vụng dại mưu nào có” là một nét chấm phá độc đáo làm chủ động cho toàn bài thơ. Nơi đây, người vật, đồ vật, không gian, tất cả đều hòa nhập hài hoà tự nhiên vào một tổng thể rực sáng, mà ở đó mọi mưu toan của vọng chấp phân biệt không còn hiện hữu nữa, và chỉ còn lại một hình ảnh một cụ già ngây thơ chống gậy, sống tự tại giữa tầng mây. Tất cả mọi vật chung quanh giờ đây không còn là đối tượng chi phối cuộc sống ngài, mà ngược lại tất cả đã hòa nhập dung hợp vào một hình ảnh lung linh ở trên giường Thiền. Ngài viết:

“ Bán gian thạch thất hòa vân trụ,
Nhất lĩnh xôi y kinh tuế hàn.
Tăng tại thiền sàng kinh tại án,
Lô tàn cốt đột nhập tam can.”
Dịch:
“ Nửa gian nhà đá lẫn tầng mây,
Trải suốt mùa đông một áo lông.
Sư tại giường Thiền, kinhtrên án,
Lò tàn củi lạnh, sáng trên không.”

Qua đây, thời gian không gian không còn nghĩa lý gì đối với thiền sư cả, cứ như thế mọi vấn đề không can hệ đến ngài, mặc dù ngài sống với chúng, nhưng tấm lòng ngài không bị chúng trói buộc, và ngược lại ngài cũng không trói buộc chúng, nhờ vậy mà cuộc sống của thiền sư trở thành tự tại giải thoát. Ngài viết:

“ Thu phong ngọ dạ nhất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung ma tức Phật vị thùy da.”
Dịch:
“ Gió thu chao động bức rèm khuya,
Nhà núi đìu hiu núp bóng cây.
Thiền đạt thôi rồi tâm một phiến,
Dế mèn rên rỉ gọi ai đây?”

Đây là giai đoạn tâm linh đạt đến chỗ tột cùng của Thiền sư Huyền quang qua câu: “ Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến” mà thuật ngữ thiền gọi là “ Tâm vật nhất như.” Giờ đây, không còn là chủ thể và đối tượng, không tâm và vật, không còn bất cứ chướng ngại ngăn cách nào giữa Thiền sư và cuộc sống, và ngược lại giữa cuộc sống và thiền sư, chúng đã trở thành một phiến. Cũng từ đó thiền sư Huyền quang thỏng tay vào chợ phiêu bồng, và dường như ông đã quên hết tất cả mọi thứ trên đời này, cứ theo duyên mà sống. Trong bài hoa cúc có đoạn ngài viết:

“ Vong thân vong thế dĩ đô vương (vong),
Tọa cử tiêu nhiên nhất pháp lương.
Tuế vãng sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.”
Dịch:
“ Quên mình quên hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm cuối trong rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.”
(theo Phan-võ lược thảo L.S.V.H.V.N. thơ văn Lý-Trần)

Đây là nếp sống ĐƯƠNG-NIỆM theo nhà Thiền, ở đây ngài Huyền quang chỉ biết sống trong hiện tại ngay trước mắt, còn những cái đã qua thì không còn nhớ nữa, hay việc gì chưa đến thì không khởi lên, và một đoạn khác ngài viết:

“ Hoa tại trung đình nhơn tại lâu,
Phần hương độc tọa tự vong ưu.
Chủ-nhơn dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.
Dịch:
“ Hoa ở trước sân người trên lầu,
Đốt hương ngồi lặng bỗng quên sầu.
Hồn nhiên người vật không tranh cạnh,
So với muôn hoa cúc đứng đầu.
( Huệ chi thơ văn Lý-Trần)

Cái đạt của Thiền sư là ở chỗ hồn nhiên trong cuộc sống, đó là lối thể hiện tâm vô phân biệt. Ở đây, chúng tôi xin mở ngoặc một tí. Nếu chúng ta đứng bên ngoài mà nhìn, thì tuy chúng ta thấy cai hôn nhiên do tâm vô phân biệt của các Thiền sư thể hiện, cũng giống như tánh hồn nhiên của tuổi thơ, nhưng thật sự cốt tủy bên trong chúng khác nhau xa. Cái hồn nhiên do tâm vô phân biệt của các Thiền sư thể hiện ra bên ngoài chúng câu hữu với giaỉ thoát, còn cái hồn nhiên của tuổi thơ chúng câu hữu với vô minh. Thế nên khi chúng ta đề cập đến vấn đề đó, thì phải hiểu chúng thể hiện theo chiều hướng nào, về hiện tượng hay bản chất? Kẽo không chúng ta sẽ bị ngộ nhận ngay về lối sống của các vị thiền sư. Đó là chúng tôi đề cập về phía chúng ta thôi, còn đối với các ngài thì chả can hệ chi. Ngài viết:

“ Ổi dư cốt đột tuyệt phần hương,
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương.
Thủ bá suy thường hòa thác thái,
Đồ giao nhơn tiếu lão Tăng mang.”
Dịch:
“ Củi tàn thôi chẳng thắp hương thêm,
Miệng đáp gia đồng hỏi mấy chương.
Bận bịu cho ai cười chế lão,
Liền tay ống thổi với mo nang.”
(Huệ chi thơ văn Lý-Trần)

Đối với Thiền sư chuyện nhân tình thế thái, chuyện thị-phi tốt-xấu, chuyện đúng sai của cuộc đời không là gì cả, vì chúng rốt cùng cũng chỉ là hậu quả tất yếu của vọng tâm phân biệt, đối đãi nhân quà sinh ra, do đó tất cả đều sai lầm; nhưng ngược lại thiền sư sống hết mình với chúng bằng lối tùy duyên, nên không bị lệ thuộc, cho nên cuộc sống của các ngài rất ư tự tại giải thoát. Ngài viết:

“ Dạ khí phân lương nhập họa bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh.
Trúc đường vong thích hương sơ tận,
Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh.”
Dịch:
“ Khí mát đêm phân nhập tới mành,
Cây sân xào xạt báo thu thanh.
Chòi tre quên bẵng hương vừa tắt,
Bủa lưới giăng trăng mấy nhánh cành.”

Đó là một lối sống hiện thực ngay trong lòng sự vật, tâm phân biệt không hiện hữu nơi đây. Do đó mọi sự vật như thật chính nó, không bị bóp méo không bị chụp mũ, không bị trang điểm, không bị biến chất; chúng trần truồng lồ lộ, không mang bất cứ nhãn hiệu nào. Chúng tùy theo duyên tan hợp mà hiện hữu hay biến dịch. Ở đây thiền sư Huyền quang đã đạt được cách sống này, nghĩa là ngài đã nắm bắt được lý Duyên khởi và sống theo tùy duyên. Ngài viết:

“ Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ,
Thiên thanh bàn khuất nhiễu ngọ lư.
Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch,
Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư.”
Dịch:
“ Vườn rộng ông cha mặc sức cày,
Quanh nhà xanh mướt ủ ngàn cây.
Ngoài sân cành quế chim cưu vắng,
Gối mát chưa tan giấc mộng ngày (ngủ trưa).”

Tóm lại, tất cả những trình bày ở trên, chúng tôi đã cố gắng ghi lại sự thể hiện tiến trình tâm linh qua những bài thơ ngài Huyền quang để lại, đã cho chúng ta một cái nhìn đúng về ngài hơn. Nghĩa là trong con người của ngài Huyền quang qua thi ca chúng mang hai sắc thái: Một thiền sư và một thi sĩ, con người thiền sư trong tư tưởng và con người thi sĩ qua hình thức thi ca, nhưng nếu nói cho cùng thì hình thức chuyên chở tư tưởng, và tư tưởng quyết định hình thức, chúng không phải là hai, nhưng chúng cũng không phải khác. Đó là một trong những đặc điểm mà ngài Huyền quang đã sử dụng trong thi ca của ông, nó mang tính tâm linh độc đáo của Việt nam.

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Năm, 8 tháng 5, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post




Thiền sư Pháp loa dạy:” Mọi người nếu hướng vào Đệ nhất nghĩ mà nói thì suy nghĩ là sai, mở miệng là lầm. Vậy thì làm sao sinh Đế, làm sao sinh Quán? Nay thử căn cứ vào đầu Đệ nhị mà nói thì cũng chẳng được sao?”
Nói về pháp dạy người, thật sự đối với cá Thiền sư, xưa nay các ngài không có bất cứ một pháp nào, khả dĩ làm tiêu chuẩn để trao cho mọi người cả. Bỡi vì pháp dạy người đó, luôn luôn tùy thuộc vào căn bệnh của người đối thoại mà các ngài cho thuốc. Như Tăng Chí thành hỏi Lục tổ Huệ năng về pháp dạy người, Tổ dạy:
- “Nếu bảo rằng ta có pháp để trao cho người, thì ta nói dối với nhà ngươi. Ở đây, chỉ tùy thuộc vào chỗ bị trói mà cởi mở, tạm gọi là Tam muội.”
Như vậy, rõ ràng ở đây các ngài chỉ làm một công việc là cho thuốc hay mở trói mà thôi. Đây là phương pháp đối trị bệnh chấp ngã, chấp pháp do vọng tâm điên đảo, phân biệt sinh ra, và tùy theo căn nghiệp của mỗi chúng sanh mà các ngài cho pháp mở trói.
Ngoài phương pháp này ra, các Thiền sư cũng thường sử dụng phương pháp chỉ thẳng. Đây là cốt tủy của Thiền tông trong:” Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật.” Cả hai phương pháp này đều nhằm vào đầu Đệ nhị mà sử dụng, vì trong cuộc sống của chúng ta, từ lời nói, cử chỉ, hành động, mọi thi vi động tác đều phát xuất từ tự tâm của mọi người. Do đó trong cuộc sống của chúng ta, các ngài y cứ vào sự thể hiện bên ngoài mà mở trói, mà chỉ thẳng. Cũng trong chiều hướng này, Thiền sư Pháp loa tuy biết rằng đối với Đệ nhất nghĩa đế suy nghĩ là sai, mở miệng là lầm; nhưng ngài vẫn đặt ra và tìm hướng giải quyết theo chỗ thấy của ngài. Thật sự việc này đối với những gười chưa ngộ đạo như chúng ta, thì khi khởi tâm suy nghĩ để mở miệng, hay bất cứ thi vi động tác nào đi chăng nữa, thì việc làm đó đều sai lầm. Đối với cảnh giới thực chứng của người đạt đạo; vì cảnh giới này không lệ thuộc vào suy nghĩ, ngôn thuyết của thế giới phân biệt chấp trước, thuộc vào hệ thống nhân qủa đối đãi nhị nguyên của chúng ta. Thế giới thực chứng này, không tùy thuộc vào hệ thống nhân qủa, mà chúng chỉ được nhận biết nếu được, qua hệ thống duyên khởi mà thôi, vì tất cả mọi thi vi động tác ở đây đều biểu thị chi trí vô phân biệt. Do đó đối với thế giới thực chứng của người ngộ đạo, chúng ta không thể dùng luật tắc nhân qủa mà đánh giá được. Gần đây chúng tôi nhận thấy có một số người, có tham vọng muốn dùng ngôn ngữ phân biệt tri thức, để khám phá thế giới thực chứng của Thánh trí, đây là một việc làm sai lầm tai hại. Sai lầm vì những kiến giải của chúng ta, những người chưa đạt đạo khác nào kiến giải của bọn mù!? Ở đây, người chưa đạt đạo khi diễn tả thế giới thực chứng của các bậc Thánh trí, cũng giống như người mù từ lòng mẹ khi diễn tả thế giới quanh họ mà thôi, vì họ chỉ nghe nói mà tưởng tượng theo cái tư duy trừu tượng để rồi thủ đắc chứ không phải chính mắt họ nhìn thấy.
Thế giới thực chứng của Thánh trí là thế giới vô phân biệt, chỉ có người chứng ngộ mới diễn tả được. Cũng bằng vào ngôn ngữ, cử chỉ, hành động như chúng ta, nhưng ở đây ngôn ngữ, và động tác của các ngài không bị lệ thuộc vào giá trị nhân qủa, chúng vượt thoát không bị trói buộc vào bất cứ điều kiện nào của giá trị đối đãi nhân quả nhị nguyên. Do đó, mọi đánh giá của chúng ta đều sai lầm, chỉ có những vị đạt đạo mới có thẩm quyền nói về thế giới mà các ngài đã thân chứng. Từ những đòi hỏi mà khả dĩ nhờ đó các ngài có thể dùng ngôn ngữ của Thế đế để nói về thế giới thân chứng của Thánh trí mà không mắc phải những sai lầm như chúng ta. Ngược lại mọi sinh hoạt trong cuộc sống bị chi phối bỡi luật tắc nhân quả đối đãi của chúng ta, theo các ngài chúng đều bị trói buộc ngăn cách, chướng ngại. Cho dù, ngay những quan niệm thuộc về Chân-thiện, hay bất cứ bất cứ quan niệm gì gì đi nữa chúng vẫn mang tính sai lầm. Vì vậy, tất cả mọi hành động, cử chỉ, lời nói gì gì của chúng ta đều bị các ngài khám phá ra tất cả, các ngài biết chúng ta đang bị kẹt ở chỗ nào, và không bị kẹt ở chỗ nào trong cuộc sống, theo đó các ngài mở trói hay cho thuốc đối trị.
Như chúng ta biết, tất cả mọi biểu tượng trong cuộc sống, qua cử chỉ, hành động của chúng ta, đều phát xuất từ tự tâm, như chính đức Phật đã dạy trong kinh Hoa Nghiêm:” Nhất thiết duy tâm tạo,” thì trong cuộc sống chúng ta, chúng được thể hiện qua hai biểu thị Vọng và Chân. Như thường thường thì chúng ta chỉ nhận biết cái vọng qua pháp phủ định của các ngài, để từ đó chúng ta nhận thấy cái sai lầm, chứ chưa hề nhận thấy cái chân được thể hiện hằng ngày, và ở đây pháp chỉ thẳng nhằm vào chúng.
Ngoài phương pháp phủ định các Vọng ra, các Thiền sư cũng thường sử dụng pháp chỉ thẳng, và cũng theo đó Thiền sư Pháp loa dạy:
- “Đại đạo rỗng suốt nào có buộc, nào có ràng, bản tánh lặng trong không thiện không ác. Bỡi do lựa chọn cho nên sinh ra tắt ngang lắm nẻo; chỉ cần quáng mắt, cũng thành cách xa trời đất. Thánh phàm vốn cùng chung một lối, phải quấy nào phải hai đường. Cho nên biết rằng tội phước vốn không; cứu cánh nhân qủa chẳng thật. Mọi người đầy đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh với thân như hình với bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt ở phía trên mắt, nhưng không dễ gì nhìn thấy. Cần phải truy tầm, chẳng thấy nói sao:” Ba ngàn pháp môn cùng về vuông tấc, hà sa diệu dụng thảy tại nguồn tâm.” Nên bảo ba cửa Giới-định-tuệ các ông không thiếu, cần phải quán nơi chính mình. Phàm những tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, đó là tánh gì? Khi biết được tánh này rồi thì đó là tâm gì? Tâm tánh đều rỗng sáng. Vậy cái nào phải, cái nào chẳng phải?”
Qua những lời dạy này, Thiền sư Pháp loa đã nói lên được hai mặt một thực tại, mà trong cuộc sống chúng ta luôn luôn thể hiện, qua cử chỉ, hành động cùng lời nói, chỗ nào bị vướng và chỗ nào không bị vướng. Ở đây, rõ ràng Thiền sư Pháp loa dùng lý Duyên khởi làm phương pháp phủ định luật nhân qủa nhị nguyên như: Đúng-sai, thiện-ác, phàm-thánh, tội-phúc v.v… do vọng tâm phân biệt đẻ ra, và chúng ta chấp nhận nó như là một cứu cánh cho tư duy hành động, mà chúng ta không biết rằng, những việc làm này là sai lầm; nên luôn luôn bị chúng lôi kéo chạy theo, để rồi một ngày nào đó tự mình bỏ quên chính mình, chính trong cuộc sống qua tiếng ho, tiếng tằng hắng, hay trong những động tác nhướng mày, chớp mắt, tay cầm, chân đi, đó là tánh gì? Khi đã biết được tánh này rồi, thì đó là tâm gì? Tâm tánh đều rỗng sáng. Vậy cái nào phải, cái nào chẳng phải? Đây chính là phần ngài Pháp loa chỉ thẳng cho chúng ta. Vậy thì chúng ta đã nhận ra cái Bản lai diện mục của ta chưa?
Vì sao ở đây ngài Pháp loa, chỉ những động tác hằng ngày mà chúng ta coi thường không bao giờ để ý đến nó, bảo chúng ta phải tư duy nó? Phải nhìn thấy nó, phải biết nó là gì? Ở đây, nếu chúng ta nhận ra những động tác như: tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi v.v… cho là Chân tâm, là Bản lai diện mục, thì cái thấy này sẽ làm mù mắt chúng ta, vì tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày, chớp mắt, tay nắm chân đi, không phải là chân tâm, không phải là diện mục. Cái được gọi là chân tâm, là bản lai diện mục nó chỉ thể hiện bên trong, hay ở đàng sau tiếng ho tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay nắm chân đi v.v… vậy thì cái thể hiện qua các động tác đó, vì sao gọi là Chân tâm, là Bản lai diện mục? Chúng ta hãy tự tìm hiểu, tự tư duy nơi sự thể hiện của chúng. Ngược lại, nếu chúng ta bảo nó không phải là chân tâm, không phải là bản lai diện mục, thì cũng không được. Vì sao? Vì tất cả những thi vi động tác nơi chúng ta thể hiện ra bên ngoài không ngoài tự tâm. Đây là hai vấn đề mà ngài Pháp loa muốn đánh thức cái tâm chân thật nơi chúng ta, và phải nhìn như thật chính nó. Nghĩa là cái được thể hiện trong những động tác đó không khác với cái thấy nơi chúng ta. Chúng không phải hai cũng không phải khác, vì chúng luôn luôn tự thể hiện bình đẳng vô phân biệt không có sự ngăn cách, chướng ngại nào. Đó chính là pháp chỉ thẳng của ngài Pháp loa trong pháp dạy người của ngài đối với chúng ta. Và đây chúng ta tiếp tục nghe Thiền sư Pháp loa dạy:
- “Một hôm sư nghe đồ chúng tụng kinh, bè hỏi chúng đang làm gì?”
Có vị Tăng thưa:
- “Chùng niệm Phật tâm.”
Sư bảo:
- “Nếu nói là tâm thì tâm không Phật, nếu bảo là Phật thì Phật không tâm. Vậy cái nào gọi là tâm?”
Vị Tăng không đáp được; sư lại hỏi một vị Tăng khác nữa:
- “Chúng đang làm gì?”
Tăng thưa:
- “Niệm Phật.”
Sư bảo:
- “Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?”
Tăng thưa:
- “Chẳng biết.”
Sư bảo:
- “Ngươi đã chẳng biết, vậy Ai nói đó?”
Tăng không đáp được”
Qua công án này Thiền sư Pháp loa đã dùng phương pháp Duyên khởi phủ định, để bít hết mọi con đưòng nhân quả có thể có, theo lối kiến giải tri thức nhị nguyên phân biệt của người đối thoại mà đả thông cho họ; nhưng căn cơ của họ chưa lãnh hội được lý duyên khởi, nên chỉ có cách là chỉ thẳng. Đây là cú đòn tối hậu đề lay chuyển, đánh thức cơ mê, và chỉ cho gút trói mà tự mở vào. Nhưng than ôi! Thế là công dã tràng, người đối thoại vẫn còn ngủ mê.
“Một hôm Huyền Quang đứng hầu lúc sư bị bệnh, trong lúc sư đang ngủ Huyền Quang nghe sư hỏi: Hồng, hồng… Huyền Quang liền thưa:
- “Tôn giả mớ chăng?”
Sư đáp:
- “Ngủ thì nói mớ còn không ngủ thì chẳng nói mớ!”
Huyền Quang thưa:
- “Không thể ngủ với thức là một được?”
Sư bảo:
- “Ngủ với thức là một.”
Huyền Quang thưa:
- “Không thể bệnh cùng chẳng bệnh là một được.”
Sư bảo:
- “Bệnh có can hệ gì đến Y, không bệnh cũng chẳng can hệ gì đến Y.”
Cũng như trong công án trên thiền sư Pháp-Loa trong pháp dạy người, cùng lúc đã xử-dụng hai cách để đánh thức đệ-tử mình, nhưng người đệ-tử chưa đủ lanh mắt đe tiếp nhận những lời dạy, nên giở trò đôi co với ông tavà cuối cùng cũng phải dùng cách chỉ thẳng. Thế mà người đệ-tử đầu tay của ngài vẫn không chuyển não.
Ở đây, chúng ta đã thấy được chổ chỉ thẳng của thiền sư Pháp-Loa qua từ” Y” trong câu :” Bệnh cũng chẳng quan hệ gì đến Y”. Từ Y ở đây không phải là một từ tầm thường, vì nói vượt ra mọi liên hệ nếu có trong cuộc sống, và đến khi nào muốn giải thoát thì phải tham thấu lọt qua khởi nó mới được, còn nếu không thì luôn luôn trói-buộc trong khổ đau, sanh-tử và dưới đây chúng tôi xin trích dẫn một công án cũng thuộc loại chỉ thẳng của thiền sư Pháp-Loa nhân khi bệnh nặng trở lại.
“Huyền Quang thưa :
- Xưa nay đến chổ đó, không hay giữ cái nào tốt ?
Sư bảo :
- Tất cả đều không can-hệ.
Huyền Trang thưa :
- Khi tất cả đều không can-hệ thì thế nào ?
Sư bảo :
- Tùy chổ mà an sống.”
Vị đệ-tử thấy tình trạng bệnh của thầy khó vượt qua, nên ướm thử lời bán rao sanh-tử ra vào nhân quả để xem thầy mình như thế nào ?”
Ở đây cả hai điều ông muốn có đáp án chính xác nơi thầy, nhưng ông chả nhận được gì qua lời đáp của thầy cả. Tất cả đều không can-hệ, đây là một trạng thái hoàn toàn tự-tại, giải thoát không bị lệ thuộc vào luận-tắc nhân quả của buông hay giữ. Vậy trạng thái này chỉ cho cái chi ? Nếu ở đây người đệ-tử thấy được nó thì có lẻ không bao giờ ông ta buông ra câu hỏi tiếp để rồi nhận lãnh một đáp-án không như mình mong muốn.
Tóm lại để thay lời kết-luận chúng tôi muốn liên hệ hai câu chuyện thiền, mà nó đã trở thành một công-án đối với bất cứ người học thiền nào cũng đều biết cả :
“Từ pháp hội Linh-Sơn đức Thế-tôn cầm cành hoa giơ lên. Bấy giờ mọi người làm thinh, chỉ có ngài Ca-Diếp mặt rạng mỉm cười, Phật dạy :
- Ta có chánh-pháp nhãn-tạng, diệu tâm niết bàn, thực-tướng vô minh, pháp môn vi diệu. Nay trao lại cho Ma-Ha Ca-Diếp” .
Qua cành hoa đức Thế-tôn cầm giơ lên, ngài Ca-Diếp đã lãnh-hội gì nơi đó ? Có người giải thích công án này là đức Phật nhằm truyền tâm cho ngài Ca-Diếp qua Tánh Thấy theo kinh Lăng-Nghiêm.
Ở đây chúng tôi không đặt vấn-đề đúng hay sai, vì đúng hay sai đều lệ thuộc vào luật-tắc nhân quả, nhưng chúng tôi muốn nêu vấn-đề Tánh Thấy này nó như thế nào ? Chúng ta đã thấy nó chưa ? Hay nó chỉ là một danh động từ không hơn không kém, có nghĩa là nó được hiểu nhờ vào dùng từ định nghĩa-từ.
Tánh thấy này nó ở nơi cành hoa đức Phật giơ lên, hay nó ở nơi ngài Ca-Diếp ? Nếu nói nó ở nơi cành hoa đức Phật giơ lên nhằm trao cho ngài Ca-Diếp, thì cành hoa này trở thành tướng (bị) thấy của ngài Ca-Diếp chứ không phải tánh thấy của ông. Nếu bảo rằng ngài Ca-Diếp nhân cành hoa đức Phật giơ lên mà thấy được Tánh Thấy của mình. Vậy thì Tướng thấy kia nó phải như thế nào mới đủ khả năng tác động Tánh Thấy của ngài chứ ? Chúng ta nên biết Thiền-Tông tối-kỵ việc đem ngôn ngữ, thuật ngữ của kinh giáo mà gán cho thiền, vì theo Thiền-Tông những thuật-ngữ đó là những thuật ngữ chết không chuyên chở được gì ngoài luật-tắc nhân-quả. Theo chúng tôi cái mấu chốt ở đây được đức Phật thể hiện qua cành hoa, từ đó mới tác động lên cái nhìn của ngài Ca-Diếp. Cái nhìn này là một cái nhìn xuyên suốt vở tung cành hoa chứ không phải cái nhìn chạm tới bên ngoài của cành. Vậy thì cái gì chứa đựng bên trong cành hoa đó ? Đây là một dịp để chúng ta suy nghiệm.
“Ngài A-Nan hỏi ngài Ca-Diếp :
- Ngoài bộ y vàng Thế-tôn còn truyền chi cho ngài nữa :
Ca-Diếp gọi :
- A-Nan!
A-Nan :
- Dạ!
Ca-Diếp nói :
- Hãy lật ngược cây sát can ngoài cửa!”
Cũng như công án trên, ở đây có người dùng tiếng” dạ” của ngài A-Nan để làm Tánh nghe (theo kinh Lăng Nghiêm). Thật sự tiếng dạ này chúng ta tham thấu lọt qua khỏi nó thì tánh nghe,tánh thấy gì gì đi nữa cũng trở thành một trò hí-luận, vì chúng thể hiện cho tâm vô phân biệt qua nó, chứ không phải tay cầm hoa hay tiếng dạ là cứu cánh. Đó cũng là những gì Thiền-sư Phát-Loa muốn nhắn gởi những người hậu thế chúng ta qua phương pháp chỉ thẳng qua ngài.

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Hai, 14 tháng 4, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

Từ pháp hội Linh sơn, đức Thế tôn cầm cành hoa giơ lên trước chúng. Bấy giờ, mọi người đều làm thinh, chỉ có ngài Ca diếp rạng mặt mỉm cười. Phật dạy: “ Ta có chánh pháp nhãn tạng, diệu tâm Niết bàn, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma ha Ca diếp.” Và cho đến khi Bồ-đề-đạt-ma đến Trung quốc tuyên bố rằng: “ Chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, không lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo.” Qua những lời dạy này, đã nêu rõ chủ đích và sự kế thừa của Thiền tông rồi.
Ở đây, chúng ta thấy rõ ràng đức Phật và các vị Tổ sư đã nêu rõ chủ đích lấy Tâm làm gốc, và không cửa là cửa pháp. Nhưng đã không cửa thì làm sao lọt qua? Như vậy thì lời dạy của các vị Tổ sư cũng chỉ là việc lấy đũa quơ trăng, gãi ngứa trên giày, khi không dậy sóng, đem thịt da lành lặng mổ lấy nhọt, thì có ăn nhằm vào đâu? Song quí vị cứ an tâm đi, há chẳng nghe Mã tổ-Đaọ nhất trả lời cho vị tăng sao!

“ Tăng hỏi:
- Vì sao Hòa thượng nói: Tức tâm tức Phật?
Mã tổ đáp:
- Vì để dỗ con nít khóc.
Tăng hỏi:
- Khi nín rồi phải làm sao?
Mã tổ đáp:
- Chẳng phải tâm chẳng phải Phật.
Tăng thưa:
- Trừ hai việc trên ra, nếu có người hỏi thì phải trả lời như thế nào?
Mã tổ đáp:
- Nói với Y là chẳng phải vật.
Tăng hỏi:
- Nếu chợt trong kia có người đến thì sao?
Mã tổ đáp:
- Liền dạy Y thể hội đaị đạo.”

Qua công án này, nếu thấy rõ được lời dạy này, thì chúng ta sẽ thấu rõ được Không cửa là cửa Pháp (không cửa này không đối lập với có cửa), và chúng ta mỗi người tự lọt qua cửa Tổ rồi, cho dù có cửa hay không có cửa cũng mặc, không bận gì đến chúng ta. Có thế chúng ta mới tự tại bước vào thế giới sống động không một chút vướng bận, đối với các thế lực vô minh đang ngăn cản bước tiến của chúng ta.
Ở đây, Thượng sỹ Tuệ Trung sẽ là người hướng dẫn chúng ta quét sạch các thế lực vô minh đang bao phủ, và thủ tiêu mọi kiến giải có được về khái niệm, về nhị nguyên, về nhân quả v.v… trong cuộc sống trần gian này của mỗi chúng ta. Hãy lắng tai nghe bằng mắt, hãy mở mắt thấy bằng tai qua ngôn ngữ dạy người của Thượng sỹ Tuệ Trung, thì chúng ta mới có thể làm một caí nhảy vọt vào cửa Tổ được.

“ Một hôm hoàng hậu Thiên Cảm mở tiệc trong cung mời ông vào dự. Trên bàn tiệc có những thức ăn chay và mặn, ông đã ăn thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hoỉ:
- Anh tu Thiền mà ăn cá thịt, làm sao thành Phật được?
Thượng sỹ Tuệ Trung đáp:
- Phật là Phật, Anh là anh, anh không cần thành Phật, Phật không cần thành anh. Em không nghe cổ đức nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?”

Ở đây, Thượng sỹ nói Phật –Anh, Văn Thù-Giải thoát là gì? Và Thượng sỹ trả lời tiếp nhân câu hỏi của Nhân tông:
“Bạch Thượng-sĩ, chúng-sanh quen cái nghiệp ăn thịt uống rượu thì làm sao thoát khỏi tội báo ? Tuệ-Trung đáp :
Nếu có người đang đứng xây lưng lại, thình lình có vua đi ngang qua sau lưng người này không biết, cầm một vật ném nhằm vua . Thử hỏi người ấy có sợ hay không, ông vua có giận hay không ? Nếu biết hai việc này không dính-líu nhau . Rồi ông đọc bài kệ sau đây cho vua nghe :

Muôn pháp đều vô thường
Tâm ngờ tội liền sanh
Xưa nay không một vật
Không hạt không mầm sanh .
Nhân-Tông hỏi tiếp :
Vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao-lãng để làm gì ?
Tuệ-Trung cười không đáp, nhưng vua cố nài . Tuệ-Trung đọc bài kệ sau đây :

Trì giới và nhẫn nhục
Thêm tội chẳng được phước
Muốn siêu việc tội phước
Đừng trì giới nhẫn nhục
Như người muốn leo cây
Đương yêu tự chuốt nguy
Nếu đừng leo vây nữa
Trăng gió làm được gì ?

Qua những bài kệ này, Tuệ-Trung đã trả lời quá rõ ràng cho chúng ta rằng : Sở dĩ có nhân-quả tội-phước là do tâm chấp trước, nên bị chúng kéo-lôi không thể giải thoát ra được . Muốn giải thoát ra thì hãy phá bỏ mọi định-kiến chấp-trước , thì tự nhiên tự-tại . Hãy nghe Thượng-sĩ đọc tiếp :

Hằng ngày khi đối cảnh
Cảnh đó do tâm sanh
Tâm cảnh đều không tịch
Khắp chốn tự viên thành .

Trong pháp tiếp ngườicủa thượng sĩ Tuệ-trung ông đã sử dụng một thứ ngôn ngữ nhẹ-nhàng trôi chảy,nhưng có một sức mạnh phá vở thuyết-phục, nhằm giải phóng cơ mê của người đối thoại ra khỏi ngục tù vây hãm của mọi kiến-giải về nhị nguyên . Những đòn phép này, Tuệ-Trung không những không nhằm đưa người đối thoại đến một giải pháp hợp lý thoã mãn nào, mà còn tạo cho cho người đối htọai một cảm giác lạc hướng đi . Từ đó họ tựï mở cho mình một con đường sống tự-tại . Đây chúng ta hãy cùng lắng nghe :
Có vị tăng đến hỏi :

“ Bạch Thượng Sỹ, tôi vì sanh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng; song không biết thân này từ đâu sinh ra? Chết sẽ về đâu?”
Thượng Sỹ đáp:
“ Giữa trời dù có đôi vành chuyển
Biền cả ngại gì bọt cỏn con?”

Người hỏi luôn luôn ôm ấp nỗi sống chết dằng dặc trong tâm, đâm ra ám ảnh sợ hãi cơn vô thường luôn luôn chờ chực một bên, cần giải quyết và tìm hiểu. Nhưng khi đến ông, Thượng Sỹ thay vì có một đáp án trực tiếp hợp lý. Ở đây ông đã bị Thượng sỹ taọ ra một cảm giác lạc hướng đi. Taị sao người ta cần giải quyết vấn đề sống chết, và việc đến đi của thân này, mà Thượng sỹ lại nói đến trời trăng sóng nước? Ở đây, nếu là kẻ lanh cơ, không bị kiến giải thiên kiến nhị nguyên rói buộc, thì chợt nhận ra ngay. Thử hỏi trời trăng là gì? Bầu trời là gì? Nước biển là gì? Bọt sóng là gì? Sóng có ngoài nước không? Chúng là một hay là khác? Chúng có ngại lẫn nhau không? Nếu nhận ra được chúng, thì vấn đề sanh tử không cần phải bận tâm đặt ra. Khi vấn đề sanh tử đã không đặt ra, thì vấn đề từ đâu sinh ra, sẽ đi về đâu cũng không thành vấn đề; vì vấn đề sanh tử không ngoài nhau, nên không có đầu và cuối, đã không có đầu và cuối thì làm gì có đến và đi.
Bây giờ, chúng ta thưởng thức cú đánh nghịch lý ac1 liệt của Thượng sỹ về pháp thân trong sạch.

“Một vị Tăng hỏi:
“ Thế nào là pháp thân trong sạch?”
Thượng sỹ đáp:
“ Ra vào nước đái trâu,
Nghiền ngẫm trong phân ngựa.”
Tăng hỏi:
“ Làm sao chứng nhập được?”
Thượng sỹ đáp:
“ Không có niệm nhơ bẩn, đó là pháp thân trong sạch.”
Hãy bài kệ ta đọc:
“ Xưa nay không sạch nhơ,
Sạch nhơ là tên giả;
Pháp thân không chướng ngaị,
Đục trong là caí naò?”

Qua cuộc đối đáp này, người đối thoại bị ám ảnh bỡi thiên kiến trong sạch. Thượng sỹ muốn dùng hình ảnh nước đái trâu và phân ngựa trái nghịch nhau để giải độc cho người đối thoại, từ đó họ chợt hiểu rằng sạch nhơ không là gì cả, chỉ vì tâm phân biệt chấp trước nên có sạch nhơ. Khi không còn chấp, không còn niệm phân biệt sạch nhơ nữa thì đó chính là pháp thân.
Chúng ta hãy tiếp tục lắng nghe pháp hóa giải Đồng và Khác của Thượng sỹ.

“Có Tăng hỏi:
“ Pháp thân với sắc thân giống nhau hay khác nhau?”
Thượng sỹ đáp:
“ Gươm mang hiệu Long tuyền,
Ngọc xưng Thiên hổ phách.”
Hay Tăng hỏi:
“ Bồ đề và phiền não khác nhau hay giống nhau?”
Thượng sỹ đáp:
“ Trong nước có vị muối,
Giữa sắc có màu keo.”

Vấn đề sai lầm lớn của chúng ta là từ bỏ thế giới hiện thực đang sống, để đi tìm một thế giới vĩnh cửu nào đó ở bên ngoài thế giới này. Từ đó chúng ta dựng lên một thế giới ngăn cách giữa phiền não và Bồ đề, giữa mê và ngộ, giữa phiền não trói buộc và giải thoát, giữa Phật và chúng sanh, giữa sanh tử và Niết bàn, giữa sắc thân và pháp thân, giữa phàm phu và Thánh, cho nên đẻ ra quan niệm nhị nguyên, và chấp nhận chúng như là một thực tại cần phải vươn tới, mà không biết đó là giả danh do con người phân biệt đặt ra. Ở dây Thượng sỹ mời người đối thoại đi thẳng vào thế giới hiện thực đang sống để thực chứng bằng cách tháo gỡ mọi bức tường phân biệt chấp trước đang vây quanh. Oâng baỏ ranh giới phân biệt là nguồn gốc của mọi sự ràng buộc sai lầm, nó là sợi giây ràng buộc chúng ta trong sanh tử luân hồi đau khổ. Hãy phá tung ọi ranh giới chấp trước phân biệt, và sống với caí Đang-là hiện hữu, nghĩa là phải sống theo: “ Tùy duyên pháp hợp, xứng vật dụng thành; Tùy duyên pháp biến theo vật dụng thông.” Ông nói tiếp:

“ Từ không hiện có, có-không thông,
Có có, không không cứu cánh đồng;
Phiền não Bồ đề vốn không khác,
Chân như vọng niệm thảy đều không.
Thân như kính huyễn, nghiệp như ảnh,
Tâm như gió mát, tánh giống bồng;
Đừng hỏi tử sanh, ma giống Phật,
Muôn sao hướng Bắc, thủy triều Đông.”

Thái độ lệ thuộc vào khái niệm, và cho đó là cứu cánh kiến giải là một thái độ nguy hiểm cần phải đập tan, vì chúng chỉ nuôi lớn tà kiến mà thôi, không có ích gì đến giải thoát. Thượng sỹ gặp những người có khuynh hướng này ông thường thẳng tay không thương tiếc. Nhằm muốn giải tỏa họ ra khỏi áp lực tà kiến đang vây khốn, bằng cách lật ngược tất cả mọi kiến giải về khái niệm mà họ có được qua học hỏi, làm cho họ không còn nơi đặt chân để làm điểm tựa. Từ đó họ hụp lặn trong mối NGHI TÌNH, và tự quay đầu chuyển não. Đây chúng ta thử lắng nghe một vaì cuộc đối thoại.
“Tăng hỏi:
“ Thế nào là đạo?”
Tuệ Trung đáp:
“ Đạo không dính dấp gì đến câu hỏi, câu hỏi không dính dấp gì đến Đạo.”
Lại hỏi:
“ Các hàng Thạc đức ngày xưa nói: ‘ Vô tâm là Đạo’ có phải vậy không?”
Tuệ Trung đáp:
“ Vô tâm chẳng phải đạo,
Không đạo cũng không tâm.”
Lại nói:
“ Nếu họ bảo Vô tâm là đạo, vậy thì tất cả cây cỏ đều là đạo cả sao? Còn bảo Vô tâm chẳng phải đạo, thì cần gì phải nói Là với không Là? Hãy nghe ta nói bài kệ

“ Vốn không tâm không đạo,
Có đạo chẳng Vô tâm;
Tâm, Đạo vốn hư tịch,
Đuổi tầm nó ở đâu?”
Vị Tăng chợt lãnh hội ý chỉ, làm lễ lui ra.

Điều sai lầm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, là dùng khái niệm để định nghĩakhái niệm, và cứ như thế tạo ra sự trói buộc lòng vòng lẫn nhau, không bao giờ thoát ra khỏi khái niệm. Ở đây, khái niệm Đạo được vị Tăng đem ra ướm thử Thượng sỹ, không ngờ câu trả lời lại trái nghịch những điều ông ta đã sở đắc nơi các vị Thạc đức tiền bối. Biết thế, nhưng ông vẫn cố chấp vào khái niệm Vô tâm, mà ông đã đánh đổi được từ khái niệm Đạo, và coi đó như là một cứu cánh hợp lý để phản công lại Thượng sỹ. Thượng sỹ qua câu đầu, đã bảo thẳng với vị Tăng rằng: ‘ Tất cả mọi ý niệm, mọi câu hỏi, mọi câu trả lời đều không dính líu gì đến Đạo cả.’ Vì Đạo vượt lên trên mọi sở đắc có được của mọi khái niệm, mà phải thực chứng bằng Thiền định. Ngay đến giải pháp thực chứng bằng Thiền định cũng được coi như là tạm thời, và bị vượt qua. Vì tự thân Đạo có gì vướng mắc, nếu còn vướng mắc vào khái niệm thì không phải là Đạo.
Tại sao ở đây, vị Tăng đã viện dẫn lời nói của các hàng Thạc đức cổ xưa: ‘ Vô tâm là Đạo’ mà Thượng sỹ nói nghịch lại ‘ Vô tâm không phải là Đạo?’ Đây cũng là đoàn phép phủ định Vô tâm. Vì Vô tâm cũng chỉ là một khái niệm, mà đã là khái niệm thì không còn là Vô tâm nữa. Tuy nhiên, sau khi đã lật ngược mọi kiến giải khái niệm về Đạo của vị Tăng, làm cho ông ta không còn có chỗ để bám víu, nương tựa, từ đó ông ta mới giải thích và hướng dẫn vị Tăng đến cách nhìn đúng sự thật.
Qua công án trên, chúng ta thấy cho dù, người đối thoại có viện dẫn những lời dạy của các vị Thạc đức xa xưa chăng nữa, nhưng qua người đối thoại còn vướng mắc vào khái niệm, thì cũng bị Thượng sỹ đập vỡ tan tác không chút nương tay, và ngay đến những lời của đức Phật trong kinh mà qua người đối thoại trở thành tử ngữ, trở thành khái niệm cũng bị Thượng sỹ lật ngược. Chúng ta hãy nghe tiếp cuộc đối thoại dưới đây.

“Tăng hỏi:
“ Trong kinh có câu: ‘ sắc tức là không, không tức là sắc’ ý là thế nào?”
Thượng sỹ im lặng giây lát, rồi hỏi:
“ Ông hiểu chưa?”
Vị Tăng thưa:
“ Chưa hiểu.”
Thượng sỹ hỏi:
“ Ông có sắc thân không?”
Tăng đáp:
“ Có.”
Thượng sỹ hỏi:
“ Vậy taị sao nói sắc tức là không?”
Thượng sỹ hỏi tiếp:
“ Ông thấy cái không có hình thể không?”
Tăng thưa:
“ Không thấy.”
Thượng sỹ hỏi:
“ Vậy tại sao nói không là sắc?”
Tăng thưa:
“ Như vậy rốt cuộc là thế nào?”
Thượng sỹ đáp:
“ Sắc chẳng phải không,
Không chẳng phải sắc.”
Vị Tăng lễ tạ.
Thượng sỹ gọi lại và đọc cho bài kệ:

“ Sắc tức là không, không tức sắc,
Chư Phật ba đời tạm bày đặt;
Không vốn không sắc, sắc không không,
Thể tánh sáng trong, không hề mất.”

Thượng sỹ qua cuộc đối thoại này, rõ ràng cũng giống như cuộc đối thoại trước, ông đập tan mọi khái niệm về sắc-không bằng sự im lặng; nhưng vị Tăng nọ không đủ lanh cơ để thể nhập, nên ông đành phải dùng đòn phép lật ngược. Điều mà ai cũng biết là cốt tủy trong kinh Bát nhã mà đức Phật đã nói ra. Kinh dạy: ‘ Sắc tức là không, không tức là sắc’ thì Thượng sỹ lại nói: ‘ Sắc chẳng phải không, không chẳng phải sắc.’ Người đối thoại qua lời dạy này, nghĩ sao về ông? Thượng sỹ ở đây đã tạo cho người đối thoại bị lạc hướng đi, và tạo nên một mối nghi tình to lớn. Chính nhờ cái ‘Sốc’ này mà Thượng sỹ chỉ cần gõ nhẹ vào cơ mê người đối thoại sẽ bật sáng ngay, nếu người đối thoại lanh mắt.
Qua những pháp dạy người của Thượng sỹ, ông ta cố gắng nhằm giải phóng tất cả mọi trói buộc trong cuộc sống chúng ta, bỡi những kiến giải chấp trước về nhân qủa, tội phước, về kiến giải thuộc về thiên kiến nhị nguyên, về những lệ thuộc của khái niệm, mà con người đã tự mê lầm dựng lên. Con người muốn tự tại trước cuộc sống, thì phải sống ngay trong lòng thực tại nhiệm mầu của chính mình. Không phải đi quanh nó, hay đi tìm nó ở đâu cả. Thể tánh của chúng ta xưa nay vẫn thường trong sáng, chưa hề bị mê hoặc, chỉ cần quay về với tự thân, và sống với cái Đang-là của tự thân, nghĩa là không nhớ nghĩ đến những chuyện đã qua, và lo nghĩ những việc chưa đến mà hãy sống với cái niệm hiện tại, thì tự nhiên thể tánh hiển bày. Đó chính là pháp sống: ‘ Tùy duyên pháp hợp, xứng vật dụng thành; Tùy duyên pháp biến, theo vật dụng thông.’ Chúng ta khỏi phải đi tìm Phật, tìm Tổ làm gì vô ích, vì hành động này là hành động sai lầm. Khi đã bị lệ thuộc một vật nào đó ở bên ngoài thì làm sao chúng ta tự tại được? Cốt tủy của Thiền tông chính là sự sống trong lòng thực tại, giác ngộ ngay đây, chính mình; không phải là nhờ vào mớ kiến giải suông, cũng không phải là mớ triết thuyết. Cũng giống như một khúc nhạc, muốn biêt1 tinh ba của chúng, thì phải trình bày, cử xướng trổi lên. Tinh ba của nó không nằm nơi bàn luận suông về khúc nhạc. Chúng ta hãy nghe Thượng sỹ Tuệ Trung dạy:

“ Thôi tìm Thiếu thất với Tào khê,
Thể tánh sáng trong chưa từng mê;
Chẳng quảng gần xa trăng buông sáng,
Lựa gì cao thấp gió chao nhe.
Mầu thu đậm nhạt theo duyên sắc,
Hương ngát mùi sen chẳng vướng nê (bùn);
Tuyệt khúc muôn đời nên cử xướng,
Chớ tìm nam bắc với đông tê (tây).

Read More
Người đăng: Phổ Đồng on Thứ Ba, 26 tháng 2, 2008
0 nhận xét
categories: | | edit post

nhạc nền

Video - Phim

About Me

Ảnh của tôi
Từ vô thỉ ta luân hồi cát bụi, Vẫn miệt mài bám lấy cõi trần gian; Vẫn hít thở âm thầm yêu cuộc sống, Trần gian ơi nghe cát bụi mơ màn. Theo khát vọng ta trầm luân gót mỏi, Đếm đường dài vết cũ bụi chưa tan; Ngoảnh mặt lại khói sương mờ phong kín, Đường qua đi mất dấu tự phương ngàn. Ta dong ruỗi lạc loài theo nắng sớm, Cùng mưa chiều tan nát mộng dưới chân; Đất khẽ gọi con gió chiều đi vắng, Về tự tình đưa tiễn mộng nghìn năm. Nghe tan vỡ từ vô thường hoa nở, Nắng nghìn năm trưa buồn lạ trong hồn; Chiều ủ rũ qua nắng tàn trăng hiện, Từng giọt vàng rơi cõi đất mông lung. Vẫn hiện thực qua sắc màu biến đổi, Chuyện trăng tàn nhớ bóng ráng chiều phong; Tựa hơi thở buồn vui nào biết nổi, Cả một đời qua sinh diệt thời gian. Chợt một sớm rảnh rang nhìn đất thở, Đá cựa mình nghe dao động không gian; Như hoa đớm hạt nắng vàng ảo hóa, Giọt mong manh từng giọt đẹp vô ngần. Theo duyên hiện hóa thân vào vô tận, Duyên trùng trùng cho đến mãi vô chung.